|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2025/DS-PT
Ngày 24 - 12 - 2025
Về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Phước.
Các Thẩm phán:
Ông Trần Việt Trung;
Ông Nguyễn Văn Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 51/2025/TLPT- DS ngày 06 tháng 10 năm 2025, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXX-DSPT ngày 17 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 332/2025/QĐDS-PT ngày 02 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Hoài T năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố B, xã H, tỉnh Quảng Trịcó mặt tại phiên tòa.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Sỹ T1sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ A, phường T, tỉnh Hà Tĩnhcó mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Trần Duy N năm 1960 và bà Hoàng Thị C năm 1965; có cùng địa chỉ: Tổ dân phố A, xã H, tỉnh Quảng Trịông Ncó mặt, bà C1 mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Hồ Xuân P năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố B, xã H, tỉnh Quảng TrịCó mặt.
- + Bà Phan Thị T2sinh năm 1970; địa chỉ: Số B đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh- có mặt.
- + Anh Hồ Hoàng A năm 1993; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Quảng TrịVắng mặt.
- + Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) phát triển thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T1- Chức vụ tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thành Đ- Giám đốc phòng Gthuộc Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H chỉ: Số D đường H, xã H, tỉnh Quảng TrịVắng mặt.
- + Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) ngoại thương Việt Nam. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T2– Chức vụ tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh B- Giám đốc Ngân hàng TMCP N- Vắng mặt.
Người kháng cáo: bà Phan Thị Hoài T3 là nguyên đơn trong vụ án.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/9/2024 và ngày 27/11/2024, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T4 bày:
Ngày 08/3/2018, bà T5 mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Đ1 cho thửa đất số 142, tờ bản đồ số 31, diện tích 184m² tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bìnhđã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Qcấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CI 916891 ngày 09/02/2018 mang tên bà Nguyễn Thị Đ2 đất có vị trí, kích thước cụ thể: Phía Đông giáp đường Hkích thước 8m; phía Nam giáp thửa đất số 144 (anh Hồ Hoàng Al chuyển nhượng cho ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C2 thước 23m; phía Tây giáp mương Thủy lợi, kích thước 8m; phía Bắc giáp thửa đất số 141, kích thước 23m. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B chỉnh lý thửa đất số 142 mang tên Phan Thị Hoài T6 08/3/2018. Năm 2022, bà T16 chồng là ông Hồ Xuân P1 dựng nhà trên thửa đất số 142 thì phát hiện anh Hồ Hoàng Al xây dựng móng nhà lấn sang phía sau thửa đất của bà là 07 cm. Tuy nhiên, thời điểm năm 2018 anh Hồ Hoàng A1 xây dựng nhà kiên cố nên buộc vợ chồng bà T20 chừa lại phần móng bị anh Hồ Hoàng A2 chiếm và xây lùi vào thửa đất của bà T7 06 cm.
Đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31, diện tích 184m² bà T27 giúp bà Phan Thị T8 thửa đất số 144 của ông Trần Đức D bà Hoàng Thị L năm 2017. Bà T2cho con trai là anh Hồ Hoàng A3 tên hộ thửa đất và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Qcấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 948127 ngày 28/12/2017. Năm 2018, bà T2xây dựng nhà, khi xây dựng có cán bộ địa chính đến đo đạc lại 02 thửa đất, do bà T9 bà T2là chị em ruột nên khi thợ đào móng nhà, bà T26 tiến hành đo đạc lại đất. Ngày 25/3/2021, anh Hồ Hoàng A1 lợi dụng việc bà T2cho đứng tên hộ đã tự ý chuyển nhượng cho ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C3 đó, bà T10 đơn gửi đến UBND thị trấn Hgiải quyết và UBND thị trấn H tiến hành hòa giải ngày 10/9/2024 nhưng không thành. Vì vậy, bà T10 đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C4 lại 07 cm phía sau của thửa đất 142 và di dời toàn bộ tài sản trên phần diện tích đất lấn chiếm.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C5 bày:
Năm 2021, ông N1 bà C6 chuyển nhượng 01 ngôi nhà gắn liền với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện B Hồ Hoàng AQuá trình chuyển nhượng các bên thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật. Bà Phan Thị Hoài T11 kiện yêu cầu ông N2 Ctrả lại 07cm phía mặt sau thửa đất 142 là không có cơ sở. Bởi vì nhà và đất vợ chồng ông N3 hiện vẫn đang còn thiếu diện tích. Ông N1 bà Cđề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Hoàng A4 đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt trình bày: Anh Hồ Hoàng A5 nay đang làm ăn tại TP Hồ Chí Minh, vì tính chất công việc anh không thể trực tiếp đến Tòa án làm việc nên anh đề nghị được vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án. Anh Hồ Hoàng Ađề nghị Tòa án xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản tự khai ngày 18/02/2025 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị T12 bày:
Năm 2017, bà nhận chuyển nhượng thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, thị trấn H, tỉnh Quảng Bình(củ) của ông Trần Đức D bà Hoàng Thị L1 2018, bà
2
làm nhà nên nhờ con trai là anh Hồ Hoàng A3 ra trông coi và giúp cho bà T2trong quá trình thợ thi công. Khi làm nhà, chủ thầu có nói với bà là không xây thẳng được nên phải lấn chiếm qua thửa đất bên cạnh có được không. Vì thửa đất 142, tờ bản đồ số 31 bên cạnh là của em gái ruột bà là Phan Thị Hoài T13 bà T2cho rằng không có việc gì. Bà Phan Thị Hoài T14 biết thửa đất số 144 hiện do ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C7 tên nên bà T11 kiện buộc ông N1 bà C4 lại đất là quyền của bà TTài sản trên thửa đất số 144 hiện nay bà T đang khởi kiện tranh chấp nên đất và nhà bà chưa biết là của ai.
Tại Bản tự khai ngày 05/8/2025 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Xuân P2 bày:
Ông Phoàn toàn thống nhất với lời trình bày của bà Phan Thị Hoài T15 yêu cầu ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C4 lại toàn bộ và diện tích đất đã lấn chiếm cho vợ chồng ông theo yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của bà T
Tại Đơn trình bày ngày 25/8/2025, đại diện Ngân hàng TMCP P HChi nhánh Qtrình bày:
Ngày 18/10/2023, bà Hoàng Thị C8 ông Trần Duy N4 ký kết hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H nhánh Q- Phòng Gtheo Hợp đồng tín dụng số: 12961/23MB/HĐTD ngày 18/10/2023 và Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 12961/23MB/HĐTD/PL01 ngày 26/02/2024. Đảm bảo cho khoản vay ông N1 bà C9 thế chấp tài sản gắn liền diện tích thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện B (nay là: xã H, tỉnh Quảng Trịtheo Hợp đồng thế chấp số: 3756/22MB/HĐBĐ ngày 15/02/2022 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng 3756/22MB/HĐBĐ/PL01 ngày 13/10/2022. Hiện tại bà Hoàng Thị C8 ông Trần Duy N5 hoàn tất khoản vay nêu trên và tài sản thế chấp hiện đang tranh chấp trong vụ án. Vì vậy, Ngân hàng đề nghị Toà án tiến hành giải quyết, xét xử theo quy định của pháp luật. Đồng thời cho phép Ngân hàng được vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết, xét xử vụ án.
Tại Bản tự khai ngày 25/8/2025, đại diện Ngân hàng TMCP N nhánh Qtrình bày:
Ngày 12/8/2024, bà Phan Thị Hoài T16 ông Hồ Xuân P3 ký kết hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng TMCP N- Phòng Gtheo Hợp đồng tín dụng số 011008/2024/VCB.QB. Đảm bảo cho khoản vay ông P4 bà T27 thế chấp tài sản gắn liền diện tích thửa đất số 142, tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện B (nay là xã H, tỉnh Quảng TrịHiện tại bà T16 ông P5 thanh toán khoản vay và tài sản thế chấp hiện nay bà T17 tranh chấp tại Toà án. Phía Ngân hàng đề nghị Toà án tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị, đã quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 227 và khoản 1, khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 175 và 176 Bộ luật dân sự; Điều 98, Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T3 đối với bị đơn ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C10 việc trả lại 07 cm đất (phần cạnh phía Tây Nam của thửa đất 142, tờ bản đồ số 31 và phần cạnh phía Tcủa thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31) tại tổ dân phố B, xã H, tỉnh Quảng Trị.
3
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/9/2025 và tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T3 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, với lý do: Toà án cấp sơ thẩm không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; về nội dung thì kết quả đo đạc diện tích hai thửa đất; tài liệu chứng cứ để xét xử không chính xác; các tranh luận và thỏa thuận trong phiên tòa sơ thẩm được ghi nhận; Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết phần đất khoảng hở 0,06m² giữa hai nhà là thiếu sót; bản án không phản ánh đúng sự thật khách quan, vì rõ ràng có hành vi lấn chiếm nhưng Tòa án lại kết luận không lấn chiếm là không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bà T18 Bà Tđề nghị cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn; xét xử khách quan, công bằng, đúng khoa học để bị đơn trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho nguyên đơn.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng:
- + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định tại các Điều 51, 64, 239, 297, 298, 301, 305 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- + Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73, 75 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T19 nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Quảng Trị.
Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 148 BLTTDS; Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí buộc nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T20 chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự thì bà Phan Thị Hoài T3 có quyền kháng cáo và việc kháng cáo được thực hiện trong thời hạn quy định nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận để xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
- [1.2] Vắng mặt đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Hoàng A6; Ngân hàng thương mại cổ phần ( TMCP ) phát triển thành phố H; Ngân hàng thương mại cổ phần ( đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- [2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T21 đồng xét xử thấy rằng:
4
- [2.1] Nguyên đơn cho rằng Toà án cấp sơ thẩm không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 10/02/2025, Toà án cấp sơ thẩm ban hành Thông báo số 02/2025/TB-TA về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, phiên họp tổ chức vào ngày 18/02/2025; tuy nhiên ngày 18/02/2025 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Hoàng A7 mặt nên cả nguyên đơn và bị đơn yêu cầu không tiến hành hoà giải do đó Toà án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải. Đến ngày 23/6/2025, Toà án cấp sơ thẩm ban hành Thông báo số 02a/2025/TB-TA về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, phiên họp tổ chức vào ngày 02/7/2025; tuy nhiên ngày 02/7/2025 nguyên đơn vắng mặt nên Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải được. Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó kháng cáo của bà Phan Thị Hoài T14 rằng Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là không có cơ sở.
- [2.2] Xem xét về nguồn gốc quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T3 và bị đơn ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C11 đồng xét xử thấy rằng:
- Nguồn gốc của thửa đất số 142, tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là xã H, tỉnh Quảng Trịtrước đây thửa đất số 219 tờ bản đồ số 21 có diện tích 184m² tại thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bìnhđược UBND huyện Bcấp cho ông Nguyễn Hữu L2 bà Ngô Thị S 24/3/2005. Theo bản đồ mới thửa đất số 219 tờ bản đồ số 31 thay đổi thành thửa đất số 142, tờ bản đồ 31. Sau đó ông L1và bà S1 chuyển nhượng lại thửa đất này cho bà Nguyễn Thị Đ1ngày 09/02/2018 Ủy ban nhân dân huyện B cho bà Đ1thửa đất số 142 tờ bản đồ số 31 có diện tích 184m². Ngày 08/3/2018, bà Đ1đã tặng cho bà Phan Thị Hoài T22 đất số 142 tờ bản đồ số 31 và được Chi nhánh Văn phòng Đ3(cũ) chỉnh lý quyền sử dụng đất cho bà Phan Thị Hoài T3 vào ngày 08/3/2025.
- Nguồn gốc của thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là xã H, tỉnh Quảng Trịtrước đây là thửa đất số 220 tờ bản đồ số 21 có diện tích 184m² tại thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bìnhđược UBND huyện Bcấp cho ông Trần Đức D bà Hoàng Thị L3 06/8/2002. Theo bản đồ mới thửa đất số 220 tờ bản đồ số 21 thay đổi thành thửa đất số 144, tờ bản đồ 31. Ông Hồ Hoàng A8 chuyển nhượng thửa đất nói trên của vợ chồng ông D1 Lvà được Ủy ban nhân dân huyện B ngày 28/12/2017 đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ 31 có diện tích 184m² tại thị trấn H Hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 thể hiện ông Hồ Hoàng A1 bổ sung tài sản tại thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 là ngôi nhà 3 tầng có trang bổ sung giấy chứng nhận ngày 19/11/2018. Ngày 31/3/2021, ông Hồ Hoàng A9 nhượng nhà gắn liền với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 cho ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C12
- [2.3] Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã thành lập Hội đồng xem xét, thẩm định tại chỗ, kết quả thể hiện:
- Đối với thửa đất số 142 tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là xã H, tỉnh Quảng Trịcó diện tích 184,4 m² được UBND huyện B (cũ) cấp cho bà Phan Thị Hoài T3, có ranh giới: Điểm 1 đến 2: Mép tường nhà bà T7 đường thẳng 8,03 m giáp Quốc lộ A; Điểm 2 đến 3: Mép tường nhà bà T7 đường thẳng 23,15 m giáp nhà ông N2 C; Đ23 đến 4: Mép tường nhà bà T7 đường thẳng 7,87 m giáp
5
mương thuỷ lợi; Điểm 4 đến 1: Mép tường nhà bà T7 đường thẳng 23,22 m giáp nhà ông H C1
- Đối với thửa đất số 144 tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là xã H, tỉnh Quảng Trị có diện tích 182,4 m² được UBND huyện B (cũ) cấp cho ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C12, có ranh giới: Điểm 2 đến 6: Điểm 2 mép tường ngoài nhà bà T23 6 mép tường ngoài nhà ông Nó đường thẳng 8,05 m giáp Quốc lộ A; Điểm 6 đến 5: Điểm 5, 6 mép tường ngoài nhà bà N6 đường thẳng 21,85m giáp nhà ông L4; Điểm 6 đến 3: Điểm 6 mép tường ngoài nhà ông N7 3 mép tường ngoài nhà bà T7 đường thẳng 7,87m giáp mương thuỷ lợi; Điểm 3 đến 2: Điểm 2, 3 mép tường ngoài nhà bà T7 đường thẳng 23,15 m giáp nhà bà T; Cạnh phía Đông kích thước 7,83m và cạnh phía Tây kích thước 7,81 m (đều thiếu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Như vậy, căn cứ sơ đồ thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực V - tỉnh Quảng Trị lập ngày 20/6/2025 thì thửa đất số 142 tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, xã H, tỉnh Quảng Trị của bà T24 ra diện tích 184,4 m², nhiều hơn so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 0,4 m²; thửa đất số 144 tờ bản đồ số 31 tại tổ dân phố B, xã H, tỉnh Quảng Trị của ông Nhà C13 ra diện tích 182,4 m², ít hơn hơn so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1,6 m². Mặt khác, ranh giới hiện trạng giữa hai thửa đất, ranh giới giữa 2 nhà đã xây dựng so với ranh giới theo bản đồ địa chính được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đinh bà T16 gia đình ông N8 nhà và đất ông của Nhà C14 sử dụng không vượt quá ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện trạng sử dụng đất của ông N2 C tại thửa 144 phù hợp với ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thay đổi; ông N2 Csử dụng đất không vượt quá ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông N2 C.
- [2.4] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Phan Thị Hoài T25 cần chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát tỉnh Quảng Trị, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị .
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T26 được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T3 giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 227 và khoản 1, khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 175, Điều 176 Bộ luật dân sự; Điều 98, Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai; xử:
6
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T3 đối với bị đơn ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C10 việc trả lại 07 cm đất (phần cạnh phía Tây Nam của thửa đất 142, tờ bản đồ số 31 và phần cạnh phía Tcủa thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31) tại tổ dân phố B, xã H, tỉnh Quảng Trị.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bà Phan Thị Hoài T20 chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000302 ngày 11/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Bà Phan Thị Hoài T27 nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Hồng Phước |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Trần Việt Trung |
Nguyễn Văn Dương |
Phan Hồng Phước |
7
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Hồng Phước |
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bà Phan Thị Hoài T3 phải chịu các chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ với tổng số tiền 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng). Bà T đã nộp đủ tiền lệ phí tố tụng.
- Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị Hoài T20 chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000302 ngày 11/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Bà T27 nộp đủ.
Bà T phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T27 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là Phòng Thi hành án khu vực 1 - tỉnh Quảng Trị) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002793 ngày 08 tháng 01 năm 2025. Bà T27 nộp đủ án phí vụ kiện.
Bị đơn ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C15 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
8
Theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm đã lập Hội đồng xem xét, thẩm định tại chỗ vào ngày 20/6/2025, kết quả như sau:
+ Về xác định ranh giới, diện tích đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 31, cụ thể:
Từ điểm 1 đến điểm 2: Điểm 1, 2 là mép tường nhà bà TRanh giới được xác định theo đường thẳng, kích thước 8,03m, giáp đường Q
Từ điểm 2 đến điểm 3: Điểm 2, 3 là mép tường nhà bà TRanh giới được xác định theo đường thẳng, kích thước 23,15m, giáp nhà ông N2 C
Từ điểm 3 đến điểm 4: Điểm 3, 4 là mép tường nhà bà TRanh giới được xác định theo đường thẳng, kích thước 7,87m, giáp mương Thủy lợi.
Từ điểm 4 đến điểm 1: Điểm 4, 1 là mép tường nhà bà TRanh giới được xác định theo đường thẳng, kích thước 23,22m, giáp với tường nhà ông H C1
Tổng diện tích thửa đất 142, tờ bản đồ số 31 là 184,4m².
+ Về xác định ranh giới, diện tích tại thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31, cụ thể:
Từ điểm 2 đến điểm 6: Điểm 2 là mép tường ngoài nhà bà T23 6 là mép tường ngoài nhà ông N9 giới được xác định theo đường thẳng, kích thước 8,05m, giáp đường Q
Từ điểm 6 đến điểm 5: Điểm 5, 6 là mép tường ngoài nhà ông N9 giới được xác định theo đường thẳng, kích thước 21,85m, giáp đất ông L4
Từ điểm 6 đến điểm 3: Điểm 6 là mép tường ngoài nhà ông N7 3 là mép ngoài tường nhà bà T28 giới được xác định theo đường thẳng, kích thước 7,87m, giáp với mương Thủy lợi.
Từ điểm 3 đến điểm 2: Điểm 2, 3 là mép ngoài tường nhà bà T28 giới được xác định theo đường thẳng, kích thước 23,15m, giáp nhà bà T
Tổng diện tích thửa đất 144, tờ bản đồ số 31 là 182,4m².
+ Tài sản trên thửa đất số 142, tờ bản đồ số 31, gồm: 01 ngôi nhà 3 tầng, móng xây bằng đá học, tầng 1 có phòng bếp và 01 cửa hàng kinh doanh, nền lót gạch, cầu thang tay vịn bằng gỗ và kính; tầng 3 có phòng thờ, sân phơi. Kích thước: cạnh phía Đông, giáp đường giao thông 8,03m; cạnh phía Nam giáp nhà ông N23,15m; cạnh phía Tây giáp mương thủy lợi 7,87m; cạnh phía Bắc giáp nhà ông H23,22m.
+ Tài sản trên thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31, gồm: 01 ngôi nhà 3 tầng; tầng 1 có phòng bếp, vệ sinh và 01 cửa hàng kinh doanh, nền lót gạch, cầu thang tay vịn bằng gỗ và kính; tầng 3 có phòng thờ. Kích thước: cạnh phía Đông, giáp đường giao thông 7,83m; cạnh phía Nam giáp nhà ông L221,85m; cạnh phía Tây giáp mương Thủy lợi 7,81m; cạnh phía Bắc giáp nhà bà T23,15m.
Ranh giới xây dựng giữa 02 thửa đất có khoảng hở phía Đông 07cm và phía Tây 06cm.
9
Ngày 04/8/2025 bà Phan Thị Hoài T29 đơn đề nghị Toà án đo đạc lại thửa đất số 142 và thửa đất số 144 tại tờ bản đồ số 31. Bà T26 đồng ý với kết quả và phương pháp đo đạc thực hiện ngày 20/6/2025.
Ngày 05/8/2025, Toà án nhân dân khu vực 1 có công văn số 630/TA ngày 05/8/2025 đề nghị Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực V tỉnh Q hiện thêm trong Sơ đồ 2 thửa đất đang tranh chấp ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 142 và thửa đất số 144 tờ bản đồ số 31 tại xã H, tỉnh Quảng TrịSau khi có kết quả, Toà án nhân dân khu vực 1 đã công bố tài liệu và giao nhận trực tiếp đối với các bên đương sự. Phía nguyên đơn bà T16 bị đơn đã nhất trí với kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực V tỉnh Q
Các tài liệu Toà án thu thập được tại Chi nhánh Văn phòng Đ3thể hiện:
- Nguồn gốc của thửa đất số 142, tờ bản đồ số 31: Trước đây thửa đất số 219 tờ bản đồ số 21 có diện tích 184m² tại thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bìnhđược UBND huyện Bcấp cho ông Nguyễn Hữu L2 bà Ngô Thị S 24/3/2005. Theo bản đồ mới thửa đất số 219 tờ bản đồ số 31 thay đổi thành thửa đất số 142, tờ bản đồ 31. Sau đó ông L1và bà S1 chuyển nhượng lại thửa đất này cho bà Nguyễn Thị Đ1ngày 09/02/2018 Ủy ban nhân dân huyện B cho bà Đ1thửa đất số 142 tờ bản đồ số 31 có diện tích 184m². Ngày 08/3/2018, bà Đ1đã tặng cho bà Phan Thị Hoài T22 đất số 142 tờ bản đồ số 31, có đăng ký bổ sung tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Nguồn gốc của thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31: Trước đây thửa đất số 220 tờ bản đồ số 21 có diện tích 184m² tại thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bìnhđược UBND huyện Bcấp cho ông Trần Đức D bà Hoàng Thị L3 06/8/2002. Theo bản đồ mới thửa đất số 220 tờ bản đồ số 21 thay đổi thành thửa đất số 144, tờ bản đồ 31. Ông Hồ Hoàng A8 chuyển nhượng thửa đất nói trên của vợ chồng ông D1 Lvà được Ủy ban nhân dân huyện B ngày 28/12/2017 đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ 31 có diện tích 184 m² tại thị trấn H đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 thể hiện ông Hồ Hoàng A1 bổ sung tài sản tại thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 là ngôi nhà 3 tầng có trang bổ sung giấy chứng nhận ngày 19/11/2018. Ngày 31/3/20221 ông Hồ Hoàng A9 nhượng nhà gắn liền với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 31 cho ông Trần Duy N1 bà Hoàng Thị C12
10
Bản án số 61/2025/DS-PT ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 61/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Nguyễn Thị Lan H với LZhi
