Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 601/2025/HS-PT

Ngày: 25/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hạnh;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vũ Đông;

Ông Đặng Đình Lực.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

-Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn H, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng mở phiên tòa trực tuyến công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 661/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Trần Hải T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm 241/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

* Bị cáo có kháng cáo:

Trần Hải T, sinh 1974 tại Hải Phòng; nơi ĐKNKTT: Số D lô A tổ D mới, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là phường H, thành phố Hải Phòng) [Theo trích lục tiền án tiền sự thể hiện ĐKNKTT: Số D lô A tổ D mới, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng]; chỗ ở: Tổ A, phường L, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Đình T1 và con bà Phạm Thị N; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo T là thứ nhất; vợ: Không; có 03 con ngoài giá thú (con lớn sinh năm 2002, con bé sinh năm 2020); tiền án: Bị cáo có 01 tiền án (Bản án hình sự sơ thẩm số 82/HSST ngày 30/3/1996, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân”, 30 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt là 05 năm tù, ra tù ngày 19/3/2000, chưa thi hành án phần bồi thường dân sự); nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 08/HSST ngày 25/02/2004, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2011/HSST ngày 08/4/2011, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/5/2024 đến ngày 17/5/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam số 01 Công an thành phố H cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo (do Tòa án chỉ định): Luật sư Hoàng Thị D - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số D T, phường H, thành phố Hải Phòng, có mặt.

Người liên quan đến kháng cáo được Tòa án triệu tập: Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1985 tại Hải Phòng; giới tính: Nữ; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số A P, phường A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt do bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam H3.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2 không kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985, ĐKTT: SỐ A N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xảy ra tại địa bàn thành phố Hải Phòng có căn cứ xác định: Nguồn gốc ma túy do Nguyễn Văn T3 vận chuyển và cất giấu là của Trần Hải T, sinh năm 1974, trú tại: Tổ A, phường V, quận L (nay là phường L), thành phố Hải Phòng thuê T3 mang đi giao cho người mua ma túy và trả công bằng ma túy hoặc bằng tiền.

Khoảng 22 giờ 45’ngày 11/5/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H đến chỗ ở của T thì phát hiện 01 phụ nữ cầm theo 01 túi xách màu xanh vào nhà T rồi đi ra ngay. Cơ quan điều tra tổ chức truy tìm phụ nữ xác định là Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1985, trú tại số A P, phường N, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng. Ngày 12/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H thi hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, thu giữ đồ vật, tài sản gồm: 01 túi nilon màu vàng đựng 01 túi nilon màu vàng khác bên trong chứa tinh thể màu trắng tại đống cát thuộc khuôn viên bếp nhà T; thu trong phòng ngủ của T 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 đĩa sứ để cùng 01 thẻ cứng và 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng đều bám dính chất bột màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh bám dính chất màu đen. T4 trong cổng nhà T 01 vỏ túi giấy màu xanh, in hình chuột Mickey bị rách phía dưới đáy, có quai xách màu đen. Ngoài ra, còn quản lý của T: 01 căn cước công dân mang tên Trần Hải T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 máy tính bảng, 01 máy tính xách tay.

Tại bản Kết luận giám định số 557/KL-KTHS ngày 15/05/2024 của Phòng K Công an thành phố H xác định: Tinh thể màu trắng trong túi nilon màu vàng có khối lượng 138,38 gam là ma túy loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng trong túi nilon thu tại phòng ngủ của T có khối lượng 0,01 gam, là ma túy loại Methamphetamine; chất bột màu trắng bám dính trên đĩa sứ, thẻ cứng, ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng là Ketamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng; chất màu đen bám dính trong bộ sử dụng ma túy là ma túy Methamphetamine không đủ điều kiện xác định khối lượng.

Ngày 12 và 13/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra thi hành Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Thị Thu H1 và Trần Hải T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tạm giữ của H1 02 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda - SH mode BKS 29Y5 - 22419.

Tại cơ quan điều tra, H1 khai nhận túi ma túy H1 mang đến nhà T và bị Cơ quan điều tra thu giữ là của H1 mua của Nguyễn Thị Thanh T2 để bán. Ngày 23/04/2025, Cơ quan điều tra thi hành Lệnh khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị Thanh T2, thu giữ của T2 01 ví màu đen chứa 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng gói chất bột màu trắng; 01 cân điện tử, nhiều vỏ túi nilon có kích thước khác nhau; 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Thanh T2.

Tại bản Kết luận giám định số 270/KL- KTHS ngày 30/04/2025 của Phòng K Công an thành phố H xác định: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T2 có khối lượng 0,2 gam là ma túy loại Ketamine.

Quá trình điều tra có căn cứ xác định:

Phạm Thị Thu H1 thường sử dụng ma túy đá, không có nghề nghiệp nên H1 mua ma túy đá để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 08/5/2024, có một người đàn ông ở huyện A, thành phố Hải Phòng gọi điện thoại cho H1 đặt mua 300 gam ma túy đá, H1 gọi điện thoại bảo Trần Hải T là có khách đặt mua 300 gam ma túy đá, T có bán ma túy cho khách không; T nói hiện người bán ma túy cho T đang bị theo dõi nên không lấy được ma túy. Đến tối ngày 09/5/2024, H1 gặp Nguyễn Thị Thanh T2 tại quán ăn của T2 ở số D Hồ S, L, Hải Phòng đặt vấn đề với T2 về việc mua ma túy đá để bán cho khách, T2 đồng ý lấy ma túy đá bán cho H1.

Khoảng 14 giờ 00 ngày 10/5/2024, T gọi điện nhờ H1 mua hộ 10 gam ma tuý đá để T bán cho khách, H1 đồng ý. H1 gọi điện hỏi mua của T2 10 gam ma túy đá. Thúy báo giá 5.000.000 đồng và yêu cầu H1 chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản của T2. Đồng thời, H1 hỏi T2 giá 100 gam ma túy đá, được T2 báo giá 34.000.000 đồng/100 gam. Sau đó, H1 gọi điện bảo T chuyển 5.000.000 đồng vào tài khoản của H1 để H1 mua 10 gam ma túy đá và H1 bảo T là phải trả thêm cho H1 500.000 đồng tiền lãi, T đồng ý. T nói sẽ bán ma túy với giá 6.000.000 đồng/10 gam ma tuý đá, tiền lãi 1.000.000 đồng, T sẽ chia cho H1 500.000 đồng, T được hưởng 500.000 đồng. Sau đó, T chuyển 5.000.000 đồng vào tài khoản của H1, H1 chuyển ngay 5.000.000 đồng từ tài khoản của H1 đến tài khoản của T2 và đi đến ngõ H đường T gặp T2 nhận 01 túi nilon chứa 10 gam ma túy đá rồi mang đến giao cho T tại nhà T nhưng T chưa đưa cho H1 500.000 đồng tiền lãi do bán ma túy.

Khoảng 00 giờ 30' ngày 11/5/2024, người đàn ông ở A lại gọi điện hỏi H1 mua ma túy. Huyền báo giá là 42.000.000 đồng/100 gam ma túy đá. Khoảng 15 giờ ngày 11/5/2024, người đàn ông tiếp tục gọi điện cho H1 đặt mua 300 gam ma túy đá. H1 gọi điện báo T2 để mua ma túy, T2 đồng ý và hẹn H1 đến nhà T2 để giao dịch mua bán ma túy vào buổi tối. Khoảng 20 giờ ngày 11/5/2024, H1 đến nhà T nói với T là có người khách ở A đặt mua 300 gam ma tuý đá và hẹn giao ma tuý ở khu công nghiệp T, A trong đêm nhưng chưa lấy được ma túy, H1 sợ vì không muốn đi vào ban đêm. Nghe vậy T bảo để T đi cùng H1 và thống nhất H1 đi xe máy mang ma túy đi trước, T đi xe Taxi phía sau để hỗ trợ khi cần thiết. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H1 gọi điện thoại cho T2 thì T2 bảo H1 đến ngõ nhà T2 để giao dịch mua bán ma túy và hẹn sau khi giao ma túy cho khách xong sẽ mang tiền về trả cho T2. T2 đồng ý nhưng chỉ giao trước cho H1 150 gam ma túy đá, khi nào H1 trả tiền mua ma túy thì T2 giao tiếp 150 gam ma túy đá. Sau khi trao đổi thống nhất với T2, H1 bảo T là H1 đi lấy ma tuý, khi nào lấy được ma túy thì H1 sẽ gọi điện báo cho T. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô BKS 29Y5 - 22419 đến ngõ H T, A, L, Hải Phòng gặp T2, nhận 01 túi xách bằng giấy màu xanh có quai xách màu đen đựng 01 bọc nilon màu vàng chứa ma túy đá, rồi gọi điện báo cho T đã mua được ma túy và bảo T gọi Taxi đi cùng, T đồng ý. H1 điều khiển xe mô tô trên đi tắt đường bờ đê qua nhà T để ra đường B hướng về khu công nghiệp T - A. Khi đi đến bờ đê trước cổng nhà T, H1 cảm thấy có người theo dõi nên dừng xe, cầm túi xách chứa ma túy chạy vào trong cổng nhà T vất túi ma túy đá xuống rồi chạy ra điều khiển xe mô tô đi ra đường B. Trên đường đi, H1 gọi điện báo cho T biết đã để túi ma tuý tại cổng nhà T và H1 đi trước, khi nào thấy an toàn thì mới mang ma túy đi giao, còn không an toàn thì thôi.

Sau đó, T gọi điện đặt xe Taxi của hãng É đón T tại chân cầu B thuộc tổ A, phường V, L, Hải Phòng. Đến khoảng 22 giờ 49' cùng ngày, T cầm túi ma túy lên xe taxi BKS 15K- 04494 của hãng É do lái xe Nguyễn Văn D1, sinh năm 1994, ĐKTT: Thôn Đ, xã L, huyện V, thành phố Hải Phòng điều khiển chở T sang huyện A. Khi anh D1 chở T đến địa phận xã Đ thì T liên tục gọi điện cho H1 nhưng đều không liên lạc được. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T bảo anh D1 chở T quay về chỗ T đón xe. Anh D1 chở T về đến bờ đê dưới chân cầu B thì T cầm theo túi ma túy xuống xe, lúc này có một nam giới đi xe mô tô từ phía sau ô tô đến chở T về nhà.

Đến 00 giờ 05' ngày 12/5/2024, T đang ở nhà tại tổ A, phường V, L, Hải Phòng thì Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với T thu giữ 01 túi nilon màu vàng chứa 138,38 gam Methamphetamine và 01 vỏ túi giấy màu xanh có quai màu đen như nêu trên.

Về nguồn gốc ma túy đá bán cho H1 và ma túy Ketamine bị Cơ quan điều tra thu giữ tại nhà, Nguyễn Thị Thanh T2 khai: Ngày 10/5/2024, T2 mua 150 gam ma túy đá của người đàn ông không rõ tên, địa chỉ tại đường T, Lê C với giá 320.000 đồng/01 gam, T2 bán cho H1 10 gam với giá 5.000.000 đồng, số còn lại T2 báo cho H1 là 150 gam, bán với giá 340.000 đồng/gam. Ngày 21/4/2025 T2 mua 0,2 gam ma túy loại Ketamine của người đàn ông không rõ tên, địa chỉ tại đường T với giá 600.000 đồng, đã sử dụng một ít, số còn lại T2 gói trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và cất giấu để bán.

Trần Hải T không thừa nhận việc T thuê Nguyễn Văn T3 vận chuyển, giao ma túy cho người mua; không thừa nhận đã nhận 10 gam ma túy của H1 vào ngày 10/5/2024; còn ngày 11/5/2024 T không biết việc H1 giao dịch mua bán ma túy, không biết túi nilon màu vàng chứa ma túy do Cơ quan điều tra thu giữ trên đống cát sau nhà T là của ai. Tuy nhiên, T có giao dịch liên quan đến ma túy với H1 các lần như sau:

Lần thứ nhất, cách ngày bị khám xét khoảng 4-5 ngày, H1 nói với T là H1 có khách ở A, Hải Phòng muốn mua ma túy và nhờ T mua ma túy để H1 bán cho khách nhưng T từ chối với lý do không mua được ma túy.

Lần thứ hai, ngày 10/5/2024, có người nhờ T mua hộ 10 gam ma túy đá nên T hỏi H1 giá và nhờ H1 mua ma túy để bán. H1 báo giá mua là 5.000.000 đồng/10 gam ma túy đá, bán lại cho T với giá 5.500.000 đồng, T bán cho khách với giá 6.000.000 đồng. T và H1 đều được lãi 500.000 đồng.

Lần thứ ba, khoảng 21 giờ ngày 11/5/2024, H1 đến nhà T chơi và gọi điện thoại cho người phụ nữ giao dịch về việc mua bán ma túy, đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T không yên tâm về việc H1 trực tiếp mua bán ma túy nên T gọi xe taxi để đi gặp H1. Trên đường đi, T liên tục gọi điện cho H1 để biết tình hình của H1 nhưng H1 không nghe máy nên T nhắn tin hỏi H1 ở đâu để T đến, sau đó T sợ liên lụy nên bảo taxi chở về nhà đến khi Cơ quan điều tra đến khám xét nhà T. FG

Tại Cáo trạng số 189/CT- VKS- P1 ngày 19/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Thị Thu Huyền, Trần Hải Tuấn về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thị Thanh T2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 241/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Hải T 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2, Phạm Thị Thu H1; về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/10/2025, bị cáo Trần Hải T có đơn kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Hải T giữ nguyên nội dung kháng cáo kêu oan cho rằng không bàn bạc, không tham gia việc mua bán ma túy với Phạm Thị Thu H1; không biết túi ma túy là của ai, không biết H1 mua và bán cho ai để đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm minh oan cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Tại phiên tòa bị cáo T không thừa nhận tội, kêu oan. Các tài liệu liên quan trong hồ sơ vụ án thể hiện mua bán ma túy liên quan đến T. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Trần Hải T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, nhưng mức án 20 năm tù đối với bị cáo T là có phần nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Hải T.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, vật chứng thu giữ được đã kết luận: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Hải T không thành khẩn nhận tội, nhưng căn cứ lời khai của các bị cáo có cơ sở xác định Trần Hải T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo có nhân thân xấu, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để xử phạt Trần Hải T mức án 20 năm tù là đúng. Bị cáo Trần Hải T kêu oan, nhưng không có chứng cứ chứng minh. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Trần Hải T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo; người bào chữa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra và xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Hải T không thừa nhận mua bán ma túy với Phạm Thị Thu H1 ngày 10/5/2024, không biết và không tham gia giúp sức cho H1 bán ma túy ngày 11/5/2024, không biết túi nilon màu vàng chứa ma túy do cơ quan điều tra thu giữ trên đống cát sau nhà T là của ai và không thừa nhận việc T thuê Nguyễn Văn T3 vận chuyển, giao ma túy cho người mua mà chỉ cho rằng có nhờ H1 hỏi mua hộ 10 gam ma túy đá, sau đó T đã hủy giao dịch nhưng vẫn chuyển khoản cho H1 05 triệu đồng để trả khoản tiền T vay H1 trước đó. Đồng thời, cho rằng đêm ngày 11/5/2024 T thuê xe taxi để đi mua dây điện, nhưng không mua được lên đi về nhà. Tuy nhiên, căn cứ các biên bản lấy lời khai và biên bản hỏi cung của bị cáo Phạm Thị Thu H1 thể hiện chiều ngày 10/5/2024 T nhờ H1 mua hộ 10 gam ma túy đá của T2 với giá 05 triệu đồng, H1 thống nhất với T là H1 sẽ lấy tiền lãi là 500.000 đồng, T đồng ý và nói sẽ bán cho khách 10 gam ma túy đá trên với giá 06 triệu đồng để T và H1 mỗi người được hưởng 500.000 đồng tiền lãi, nhưng thực tế T chỉ chuyển khoản cho H1 05 triệu đồng. Sau đó, H1 đã chuyển tiền cho T2 để lấy 10 gam ma túy mang đến nhà T giao cho T. Ngoài ra, ngày 11/5/2024 H1 đã trao đổi với T về việc H1 mang ma túy đi giao cho khách ở A vào buổi đêm tối, T đồng ý thuê taxi đi sau xe máy của H1 để hỗ trợ H1 giao ma túy cho khách. Sau khi H1 mua được ma túy từ T2, H1 đã gọi điện thông báo cho T biết để chủ động gọi taxi đi và khi H1 đi xe máy ngang qua nhà T nghi có người theo dõi nên H1 đã vứt túi ma túy ở gần cổng nhà T, gọi điện báo cho T biết việc H1 ném túi hàng ở ngoài cổng nhà T và dặn T là H1 đi trước thám thính, nếu thấy an toàn thì T lấy túi ma túy mang đi sau để giao cho khách, còn không an toàn thì thôi. Sau đó thì H1 bị công an phát hiện và bắt giữ. Lời khai của Huyền phù H2 với lời khai của Nguyễn Thị Thanh T2 (là người bán ma túy cho H1), sao kê tài khoản T chuyển cho H1 05 triệu đồng; lời khai của lái xe taxi Nguyễn Văn D1 chở T đi đêm tối ngày 11/5/2024 về việc khi xuống xe T có xách 01 túi giấy màu xanh có quai xách đựng ma túy do cơ quan điều tra thu giữ tại cổng nhà T chính là túi giấy T mang trên xe ô tô trong suốt hành trình anh D1 chở T; phù hợp với biên bản nhận dạng hình ảnh túi giấy màu xanh có quai xách đựng ma túy đối với anh D1 lái xe taxi, Nguyễn Thị Thanh T2 (bán ma túy và đưa túi xách màu xanh chứa ma túy cho H1) và H1; phù hợp với nội dung tin nhắn Z giữa H1 với T liên quan đến việc trao đổi mua bán ma túy và vật chứng thu giữ. Tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T vẫn cho rằng số tiền 5.000.000 đồng chuyển khoản cho Phạm Thị Thu H1 là tiền trả khoản nợ T vay H1 trước đó, nhưng T cũng thừa nhận không có chứng cứ chứng minh việc T nợ tiền H1 và không có mâu thuẫn với H1, H1 cũng khẳng định không mâu thuẫn với T. Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên thấy các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định Trần Hải T trực tiếp mua 10 gam ma túy của H1 để bán và đồng ý giúp H1 mang 138,38 gam ma túy loại Methamphetamine đi bán cho người khác và xét xử bị cáo Trần Hải T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và không oan. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Trần Hải T.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Hải T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Trần Hải T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 241/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

    Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Trần Hải T 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/5/2024.

  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Hải T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -Vụ 1 TANDTC;
  • - VCT&KSXXPT tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hải Phòng (02 bản);
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Trại TG – CA thành phố Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Lưu HS, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Phương Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 601/2025/HS-PT ngày 25/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự phúc thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 601/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hải Tuấn trực tiếp mua 10 gam ma túy của Huyền để bán và đồng ý giúp Huyền mang 138,38 gam ma túy loại Methamphetamine đi bán cho người khác và xét xử bị cáo Trần Hải Tuấn về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger