|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2026/DS-PT Ngày: 23 - 01 - 2026 V/v “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp
Ông Nguyễn Văn Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Lê Huyền K - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 568/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai bị kháng cáo .
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 568/2025/QĐ-PT ngày 21/11/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S: ông Trần Hồng T, sinh năm 1981, địa chỉ: khu phố T, phường Đ, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- - Bị đơn: Ông Hà Xuân Đ, sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hà Xuân Đ: ông Lê Hồng P, sinh năm 1968, địa chỉ: khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
- Văn phòng Đ1 (ĐKĐĐ) tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh Đ2. Địa chỉ: thôn T, xã Đ, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).
- - Người làm chứng: Ông Trần Kim T1, sinh năm 1962; Địa chỉ: số D, QL A, tổ F, khu phố X, phường B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
Do có kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 09/01/2025, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:
Ông Nguyễn Văn S là người có quyền sử dụng đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55, diện tích: 25.914,2m², địa chỉ đất: xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai), đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Đ, tỉnh Bình Phước (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSD đất) số BM 251821 ngày 13/6/2013 đứng tên ông Nguyễn Văn S. Nguồn gốc đất trên ông Nguyễn Văn S nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Kim T2 vào năm 2013.
Ông Hà Xuân Đ là người có quyền sử dụng đối với thửa đất số 96, tờ bản đồ số 55, diện tích 35,485,1m², địa chỉ đất: xã T, tỉnh Đồng Nai. Thửa đất trên của ông Đ sử dụng có vị trí giáp ranh với thửa đất trên của gia đình ông S.
Trong quá trình sử dụng đất, ông S phát hiện thửa đất ông S sử dụng giảm 1.221m2 so với Giấy CNQSD đất, còn đất của ông Đ lại tăng 1.163 m² so với Giấy CNQSD đất của ông Đ được cấp. Trong khi ông S nhận chuyển nhượng của ông T2 là chuyển nhượng hết thửa có tổng diện tích 25.914,2m².
Sau khi phát hiện đất của các bên sử dụng không đúng so với Giấy CNQSD đất, ông S đã thương lượng với ông Đ để trả lại đất cho ông S sử dụng nhưng ông Đ không hợp tác dẫn đến tranh chấp. Nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các bên đã được UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (cũ) hòa giải nhưng không thành.
Chính vì vậy, ông S làm đơn này yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông S và ông Đ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông S. Nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Xác định phần diện tích đất tranh chấp 1.221m² thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55, diện tích 25.914,2m², địa chỉ đất: xã T, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sử dụng của ông S. (kết quả đo đạc là tế có diện tích là 1.279,4m², là các phần S1+S3 theo Bản trích đo địa chính số 003-2025 do Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ – chi nhánh Đ2 ký cấp ngày 18/4/2025)
- - Buộc ông Hà Xuân Đ phải cưa bỏ tài sản trên đất và trả lại cho ông S phần diện tích đất 1.279,4m², thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55, diện tích: 25.914,2m², địa chỉ đất: xã T, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn ông Hà Xuân Đ trình bày:
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Gia đình ông Hà Xuân Đ quản lý, sử dụng diện tích đất khoảng hơn 06 ha tại Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Sông Bé cũ (nay thuộc tỉnh Đồng Nai). Ngày 30/9/2011, ông Hà Xuân Đ chuyển nhượng cho ông Trần Kim T1 phần diện tích gần 2,5 ha. Khi giao đất, ông Hà Xuân Đ trực tiếp chỉ ranh giới; trên ranh giới này ông trồng hàng cây cao su cách khoảng 03m, ông T1 trồng cây cao su cách khoảng 02m. Do không xác định được diện tích chính xác, ông Hà Xuân Đ đề nghị cán bộ địa chính đo theo mốc ranh đã xác lập để cấp Giấy CNQSD đất cho cả hai bên. Tuy nhiên, diện tích đất trong Giấy CNQSD đất của ông Hà Xuân Đ bị thiếu khoảng 1.279,4m², việc này không được ông Hà Xuân Đ và ông T1 phát hiện, các bên vẫn quản lý, sử dụng ổn định, không xảy ra tranh chấp.
Về quá trình chuyển nhượng và sử dụng đất sau này: Năm 2013, ông T1 chuyển nhượng phần đất của mình cho ông Nguyễn Văn S, được cấp Giấy CNQSD đất số BM 251821 ngày 13/6/2013, thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55, diện tích 25.914,2m². Trước khi sang nhượng, ông Hà Xuân Đ và ông T1 đã cắm hàng trụ bê tông làm ranh giới. Sau khi nhận đất, ông S tiếp tục sử dụng theo ranh cũ và còn cho đào mương phân ranh; ông Hà Xuân Đ cũng trồng thêm hàng cây bông gòn để phân định ranh giới, việc này không bị ông S phản đối.
Về quá trình phát sinh tranh chấp: Năm 2019, ông S tự ý chặt phá hàng cây bông gòn (khoảng 04 năm tuổi) của ông Hà Xuân Đ. Ông Hà Xuân Đ trình báo Công an xã T, sau đó ông S bị cảnh cáo. Ngày 16/7/2024, ông S tiếp tục chặt phá hàng cây và cho rằng ông Hà Xuân Đ lấn chiếm diện tích đất khoảng 1.221m², yêu cầu trả lại. Ngày 09/01/2025, ông S nộp đơn khởi kiện tại TAND Khu vực 9 – Đồng Nai. Theo ông Hà Xuân Đ, sự chênh lệch diện tích là do sai sót trong quá trình đo đạc, cấp Giấy CNQSD đất, không phản ánh đúng hiện trạng sử dụng. Từ khi chuyển nhượng đến nay, ranh giới giữa các bên luôn rõ ràng, đất được quản lý, sử dụng ổn định, không xảy ra tranh chấp. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông S đòi lại diện tích 1.279,4m² (S1+S3 theo Trích đo địa chính số 003-2025 ngày 18/4/2025) là không có căn cứ.
Về yêu cầu phản tố: Ông Hà Xuân Đ yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau đây:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S về việc đòi lại diện tích 1.279,4m².
- - Xác định diện tích 1.279,4m² (S1+S3) thể hiện tại Trích đo địa chính số 003-2025 ngày 18/4/2025 của Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ – Chi nhánh Đ2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Hà Xuân Đ, nằm trong thửa đất số 96, tờ bản đồ số 55, Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- - Đề nghị Tòa án kiến nghị Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ – Chi nhánh Đ2 điều chỉnh diện tích 1.279,4m² này vào thửa đất số 96, tờ bản đồ số 55 đứng tên vợ chồng ông Hà Xuân Đ theo hiện trạng thực tế hai bên đang quản lý sử dụng vì ông Đ không sang nhượng đất cho ông S, được ông Đ quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc H thống nhất lời trình bày của chồng là ông Hà Xuân Đ. Đề nghị được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ – Chi nhánh Đ2 trình bày:
Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ - Chi nhánh Đ2 xác định quy trình, thủ tục đăng ký biến động đất đai đối với các thửa đất nêu trên là tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch về vị trí, kích thước, tọa độ giữa hiện trạng sử dụng đất (thể hiện tại Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 003-2025 ngày 18/4/2025) và Giấy CNQSD đất đã cấp là do sai sót trong quá trình đo đạc, lập bản đồ để thực hiện việc đăng ký biến động trước đây. Cụ thể, người sử dụng đất có thể đã chỉ sai ranh giới, dẫn đến sai lệch kết quả đo đạc và các thông tin trên sơ đồ. Tuy có sự sai biệt về số liệu nhưng hai thửa đất này không chồng lấn với các thửa đất liền kề khác.
Về ý kiến liên quan đến việc giải quyết vụ án: Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ - Chi nhánh Đ2 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và sẽ thực hiện việc điều chỉnh, đăng ký biến động đất đai theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi có yêu cầu. Do bận công tác, Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ - Chi nhánh Đ2 đề nghị được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S về việc yêu cầu ông Hà Xuân Đ di dời, cưa bỏ tài sản gắn liền với đất và trả lại cho ông Nguyễn Văn S diện tích đất 1.279,4m² thuộc một phần thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55, diện tích 25.914,2m², tọa lạc tại xã T, tỉnh Đồng Nai, đã được UBND huyện Đ (cũ) cấp Giấy CNQSD đất số BM 251821 ngày 13/6/2013.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hà Xuân Đ: Ông Hà Xuân Đ, bà Phạm Thị Ngọc H được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp là 1.279,4m² thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55 tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy CNQSD đất đứng tên ông Nguyễn Văn S.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hà Xuân Đ, công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Nguyễn Văn S đối với phần đất có diện tích 58,4 m² thửa đất số 96, tờ bản đồ số 55 hiện do ông Nguyễn Văn S quản lý sử dụng nhưng được cấp Giấy CNQSD đất cho ông Hà Xuân Đ.
Diện tích đất 58,4 m² (S2) và 1.279,4m² (S1 + S3) nêu trên có hình thể, ranh giới, tứ cận được xác định theo bản trích đo địa chính số 003-2025 ngày 18/4/2025 của Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ – Chi nhánh Đ2 kèm theo bản án này.
Đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu phản tố của ông Hà Xuân Đ về việc yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất cấp cho ông Nguyễn Văn S.
- Kiến nghị Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ - Chi nhánh Đ2 thực hiện thủ tục đăng ký biến động, điều chỉnh, cấp đổi Giấy CNQSD đất của ông Nguyễn Văn S và ông Hà Xuân Đ theo kết quả đo đạc thực tế nêu trên, để phù hợp với phán quyết của Tòa án.
Ông Nguyễn Văn S, ông Hà Xuân Đ cùng các thành viên trong gia đình tự mình liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục đăng ký biến động cấp mới Giấy CNQSDĐ đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án; tự chịu chi phí, các loại thuế phát sinh theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 02/10/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai theo hướng:
- - Xác định phần diện tích đất tranh chấp 1.221m² thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55, diện tích 25.914,2m², địa chỉ đất: xã T, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sử dụng của ông S.
- - Buộc bị đơn ông Đ phải trả lại cho ông S phần diện tích đất 1.221m², thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55, diện tích: 25.914,2m², địa chỉ đất: xã T, tỉnh Đồng Nai.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bên đương sự thống nhất thoả thuận nội dung việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau:
- Bị đơn ông Hà Xuân Đ đồng ý hỗ trợ cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn S số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và đã thực hiện xong.
- Ông Hà Xuân Đ, bà Phạm Thị Ngọc H được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp là 1.279,4m² thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55 tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy CNQSD đất đứng tên ông Nguyễn Văn S.
Ông Nguyễn Văn S được quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 58,4 m2 thửa đất số 96, tờ bản đồ số 55 được cấp Giấy CNQSD đất đứng tên ông Hà Xuân Đ.
Diện tích đất 58,4 m2 (S2) và 1.279,4m² (S1 + S3) nêu trên có hình thể, ranh giới, tứ cận được xác định theo bản trích đo địa chính số 003-2025 ngày 18/4/2025 của Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ - Chi nhánh Đ2 kèm theo bản án này. Kiến nghị Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ – Chi nhánh Đ2 thực hiện thủ tục đăng ký biến động, điều chỉnh, cấp đổi Giấy CNQSD đất của ông Nguyễn Văn S và ông Hà Xuân Đ theo kết quả đo đạc thực tế đã đựic các đương sự thống nhất thoả thuận nêu trên.
Ông Nguyễn Văn S, ông Hà Xuân Đ cùng các thành viên trong gia đình tự mình liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục đăng ký biến động cấp mới Giấy CNQSDĐ đất phù hợp với kết quả thoả thuận; tự chịu chi phí, các loại thuế phát sinh theo quy định của pháp luật
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự thống nhất ông Nguyễn Văn S chịu.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự thống nhất ông Nguyễn Văn S chịu.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
- - Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai theo hướng công nhận sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn S làm trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên cần xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bên đương sự thống nhất thoả thuận nội dung việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau:
- Bị đơn ông Hà Xuân Đ đồng ý hỗ trợ cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn S số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và đã thực hiện xong.
- Ông Hà Xuân Đ, bà Phạm Thị Ngọc H được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp là 1.279,4m² thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55 tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy CNQSD đất đứng tên ông Nguyễn Văn S.
- Kiến nghị Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ – Chi nhánh Đ2 thực hiện thủ tục đăng ký biến động, điều chỉnh, cấp đổi Giấy CNQSD đất của ông Nguyễn Văn S và ông Hà Xuân Đ theo kết quả đo đạc thực tế được các đương sự thoả thuận và Toà án ghi nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: các đương sự thống nhất ông Nguyễn Văn S chịu án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- [3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Ông Nguyễn Văn S được quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 58,4 m2 thửa đất số 96, tờ bản đồ số 55 được cấp Giấy CNQSD đất đứng tên ông Hà Xuân Đ.
Diện tích đất 58,4 m2 (S2) và 1.279,4m² (S1 + S3) nêu trên có hình thể, ranh giới, tứ cận được xác định theo bản trích đo địa chính số 003-2025 ngày 18/4/2025 của Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ - Chi nhánh Đ2 kèm theo bản án này.
Ông Nguyễn Văn S, ông Hà Xuân Đ cùng các thành viên trong gia đình tự mình liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục đăng ký biến động cấp mới Giấy CNQSDĐ đất phù hợp với kết quả thoả thuận của các đương sự được Toà án ghi nhận; tự chịu chi phí, các loại thuế phát sinh theo quy định của pháp luật
Về án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự thống nhất ông Nguyễn Văn S chịu án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, 309, 299, 300, 312 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn S;
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai như sau:
Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn về việc giải quyết vụ án, cụ thể:
- Bị đơn ông Hà Xuân Đ đồng ý hỗ trợ cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn S số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và đã thực hiện xong.
- Ông Hà Xuân Đ, bà Phạm Thị Ngọc H được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp là 1.279,4m² thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55 tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy CNQSD đất đứng tên ông Nguyễn Văn S.
Ông Nguyễn Văn S được quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 58,4 m2 thửa đất số 96, tờ bản đồ số 55 được cấp Giấy CNQSD đất đứng tên ông Hà Xuân Đ.
Diện tích đất 58,4 m2 (S2) và 1.279,4m² (S1 + S3) nêu trên có hình thể, ranh giới, tứ cận được xác định theo bản trích đo địa chính số 003-2025 ngày 18/4/2025 của Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ - Chi nhánh Đ2 kèm theo bản án này.
- Kiến nghị Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ – Chi nhánh Đ2 thực hiện thủ tục đăng ký biến động, điều chỉnh, cấp đổi Giấy CNQSD đất của ông Nguyễn Văn S và ông Hà Xuân Đ theo kết quả đo đạc thực tế được các đương sự thống nhất thoả thuận và được Tòa án ghi nhận.
Ông Nguyễn Văn S, ông Hà Xuân Đ cùng các thành viên trong gia đình tự mình liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục đăng ký biến động cấp mới Giấy CNQSDĐ đất phù hợp với kết quả thoả thuận được Tòa án ghi nhận; tự chịu chi phí, các loại thuế phát sinh theo quy định của pháp luật
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn S chịu án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0028824 ngày 16/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Hoàn trả cho ông S số tiền còn lại là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Hà Xuân Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 000094 ngày 08/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Văn S chịu án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0029282 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Hồng Hạnh |
Bản án số 59/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất
- Số bản án: 59/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự do đương sự tự nguyện thoả thuận
