Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HNGĐ - ST

Ngày 31-12-2025

V/v tranh chấp về ly hôn,

nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Ngọc Luân.
  2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Bá Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2025/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vì Thị Ng, sinh năm 2003; số định danh cá nhân: 011303009080; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường L, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Tạ Văn U, sinh năm 1999; số định danh cá nhân: 035099001120; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường L, tỉnh Ninh Bình); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vì Thị Ng trình bày: Chị kết hôn với anh Tạ Văn U trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 09/5/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình). Sau ngày kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc chỉ được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và sự đồng cảm dẫn đến tình trạng vợ chồng luôn căng thẳng, nặng nề. Từ tháng 4/2024 vợ chồng chị sống ly thân, chấm dứt quan hệ vợ chồng và không còn quan tâm gì đến cuộc sống, tình cảm của nhau nữa. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được hai bên gia đình và đoàn thể địa phương hòa giải nhưng không thành. Nay chị Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tạ Văn U.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Tạ Văn U, đồng thời nhiều lần triệu tập anh U đến trụ sở Tòa án để giải quyết về việc chị Ng xin ly hôn anh, nhưng anh U đều cố tình vắng mặt. Tòa án đã đến tận nhà anh U tại tổ dân phố P, phường L, tỉnh Ninh Bình để xác minh và được bà Đỗ Thị L là mẹ đẻ anh U cung cấp: Anh Tạ Văn U và chị Vì Thị Ng được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 09/5/2022 tại Uỷ ban nhân dân xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn, anh U và chị Ng chung sống cùng nhà với gia đình bà L. Anh chị chung sống hòa thuận chỉ được mấy tháng đầu, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra to tiếng, cãi vã nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng tính còn trẻ con, không chia sẻ, nhường nhịn nhau trong cuộc sống nên mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Từ khoảng tháng 4/2024 chị Ng đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và không quay về chung sống với anh U nữa. Bà L cũng khẳng định anh U làm ăn tự do và vẫn thường xuyên có mặt ở nhà. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và Giấy triệu tập của Tòa án đối với anh U, ngay sau mỗi lần nhận bà đều giao trực tiếp cho anh U. Tuy nhiên, anh U có đến Tòa án làm việc hay không thì bà không nắm được.

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình cũng đã tiến hành làm việc với chính quyền địa phương phường L, tỉnh Ninh Bình và được chính quyền địa phương cung cấp: Anh Tạ Văn U là công dân có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố P, phường L, tỉnh Ninh Bình, hiện nay anh U đang làm ăn sinh sống tại địa phương và thường xuyên có mặt ở nhà. Anh U và chị Ng chị kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 09/5/2022 tại Uỷ ban nhân dân xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình). Theo địa phương được biết sau khi anh chị kết hôn và chung sống vợ chồng với nhau chỉ được một thời gian ngắn đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Từ khoảng tháng 4/2024 anh chị đã ly thân nhau cho đến nay là thực tế. Nay địa phương đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Ng được ly hôn anh U theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Ng xác định chị và anh U có 01 con chung là Tạ Minh Kh, sinh ngày 06/12/2022, hiện nay đang do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị Ng xin được nuôi dưỡng cháu Khg, chị không yêu cầu anh U cấp dưỡng nuôi con.

Về con riêng: Chị Ng xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp, công nợ, đất nông nghiệp: Chị Ng xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vì Thị Ng. Xử cho ly hôn giữa chị Vì Thị Ng và anh Tạ Văn U. Về con chung: Giao cháu Tạ Minh Kh, sinh ngày 06/12/2022 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Ng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Vì Thị Ng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Tạ Văn U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vì Thị Ng và anh Tạ Văn U là hợp pháp, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 09/5/2022 tại Uỷ ban nhân dân xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình). Sau ngày kết hôn anh chị chung sống hòa thuận chỉ được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn căng thẳng, nặng nề. Nay chị Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết xin ly hôn anh U. Còn anh U mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình không đến Tòa để giải quyết việc ly hôn. Theo xác minh tại địa phương và người thân của anh U thì mâu thuẫn vợ chồng chị Ng, anh U xảy ra và anh chị đã ly thân nhau từ tháng 4/2024 là thực tế, khả năng hàn gắn tình cảm để anh chị đoàn tụ là rất khó. Như vậy chứng tỏ hôn nhân giữa chị Ng và anh U đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, xử cho chị Ng được ly hôn anh U là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Ng và anh U có 01 con chung là Tạ Minh Kh, sinh ngày 06/12/2022. Xét thấy từ khi anh chị ly thân nhau đến nay thì cháu Kh đều đang ở cùng với chị Ng và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Hơn nữa, cháu Kh mới được 03 tuổi nên cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp của mẹ mới đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Ng, giao cho chị Ng được quyền nuôi dưỡng cháu Kh, anh U không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị Ng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con riêng: chị Ng xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Chị Ng xác định không có nên không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Xử cho ly hôn giữa chị Vì Thị Ng và anh Tạ Văn U.
  2. Về con chung: Giao cháu Tạ Minh Kh, sinh ngày 06/12/2022 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Anh U không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Ng.

Chị Ng cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  1. Án phí: Chị Vì Thị Ng phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Ng đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002054 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. (Chị Ng đã thi hành xong phần án phí ly hôn sơ thẩm).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 5;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND phường Lê Hồ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Thạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HNGĐ - ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 59/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do vợ chồng mâu thuẫn nên chị Ng xin ly hôn anh U
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger