Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7- HẢI PHÒNG

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày 23-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự rút gọn sơ thẩm thụ lý số: 66/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 59/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Hiếu T, sinh ngày 30-10-1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hiếu B và bà Vũ Thị K; có vợ là Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn); và 02 con; tiền án: không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06-10-2025 đến ngày 15-10-2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt
  2. Đào Văn H, sinh ngày 08-01-1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn K1 và bà Vũ Thị X; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án số 07/2021/HS-ST ngày 15-01-2021, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Đào Văn H 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 18-01-2023, chấp hành xong án phạt tù, ngày 04-6-2021 đã nộp xong các khoản tiền án phí, nghĩa vụ dân sự (đã được xoá án tích); bị tạm giữ từ ngày 06-10-2025 đến ngày 15-10-2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt.
  3. Phạm Văn T2, sinh ngày 05-01-1987 tại Bắc Ninh. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường M, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Vương Thị T3; có vợ là Nguyễn Thị H2 và 03 con; tiền án: không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06-10-2025 đến ngày 15-10-2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt
  4. Bùi Văn K4, sinh ngày 29-11-1975 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đào Ở và bà Bùi Thị T4; có vợ là Vũ Thị H3 và 03 con; tiền án: không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 07-10-2025 đến ngày 15-10-2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt
  5. Nguyễn Văn Q, sinh ngày 12-8-1988 tại Nam Định. Nơi cư trú: Thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T5 và bà Đào Thị H4; có vợ là Trần Thị Lan H5 và 02 con; tiền án: không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06-10-2025 đến ngày 15-10-2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt
  6. Lâm Văn K2, sinh ngày 05-5-1973 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn P (đã chết) và bà Đào Thị T6; có vợ là Nguyễn Thị T7 và 02 con; tiền án: không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 07-10-2025 đến ngày 15-10-2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt
  7. Nguyễn Văn K3, sinh ngày 04-7-1971. Nơi cư trú: Thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T8 (đã chết) và bà Hoàng Thị H6 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị N và 02 con; tiền án: không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06-10-2025 đến ngày 15-10-2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn C1; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 06 tháng 10 năm 2025, tại nhà riêng của Nguyễn Văn K3, ở thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng. Công an xã V phát hiện bắt quả tang 06 đối tượng có hành vi đánh bạc gồm: Đào Văn H, Nguyễn Văn Q, Phạm Hiếu T, Nguyễn Văn K3, Phạm Văn T2, Bùi Văn K4 đang đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền. Cơ quan Công an thu trên chiếu bạc gồm: 01 chiếc bát bằng sứ; 01 chiếc đĩa bằng sứ; 04 quân vị và số tiền 32.900.000 đồng. Trong đó gồm 1.600.000 đồng tiền các đối tượng đặt cửa, 27.700.000 đồng tại vị trí nơi T ngồi, 100.000 đồng vị trí nơi K4 đứng, 2.000.000 đồng vị trí nơi T2 đứng, 1.500.000 đồng vị trí nơi H ngồi. Quá trình Cơ quan Công an xã V bắt giữ thì đối tượng Bùi Văn K4 đã bỏ chạy, đến ngày 07-10-2025 K4 đã đến cơ quan công an đầu thú. Xác minh ban đầu cho thấy ngoài những đối tượng bị bắt quả tang nêu trên, tham gia đánh bạc xóc đĩa trước khi bị Cơ quan Công an phát hiện còn có Lâm Văn K2, sau khi bị thua hết tiền K2 đã không chơi nữa mà về nhà. Ngày 07-10-2025 K2 đến công an xã V đầu thú khai nhận hành vi tham gia đánh bạc tại nhà K3 vào tối ngày 06-10-2025.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 khai nhận: Tối ngày 06-10-2025, tại nhà Nguyễn Văn K3 có tổ chức ăn uống liên hoan trung thu xóm. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì T, H, K4 rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa tại phòng ngủ nhà K3. T là nguời cầm bộ bát đĩa, H là người cắt quân vị. Quá trình đánh bạc lần lượt có T2, K2, Q vào tham gia đánh bạc. T là người xóc cái, những người còn lại là những người chơi, K2 tham gia đánh bạc được một lúc thì thua hết tiền nên K2 đi về. Trong quá trình các đối tượng đánh bạc tại nhà K3, K3 đều biết, K3 02 lần đi vào bảo Q về vì mẹ Q gọi nhưng Q không về. Do nể nang là anh em trong xóm nên K3 đã đồng ý để các đối tượng đánh bạc, K3 không thu tiền hồ, không trông coi canh gác cho việc đánh bạc, các bị cáo không phải nộp số tiền gì cho K3.

Hình thức đánh bạc xóc đĩa: Dùng một chiếc bát sứ úp vào lòng một chiếc đĩa sứ, bên trong có 04 quân vị có hai mặt khác nhau, người xóc cái cầm bát đĩa bên trong úp 04 quân vị đưa lên xóc nhiều lần rồi đặt xuống cho những người đánh bạc đặt cược bằng cách thức chọn “cửa chẵn” hoặc “cửa lẻ”. Theo đó, “cửa chẵn” là các con vị thời điểm mở bát khi có 02 hoặc 04 cùng mặt, lúc này người nào đặt cửa chẵn sẽ thắng, người đặt cửa lẻ sẽ thua; “cửa lẻ” là các con vị thời điểm mở bát khi có 01 hoặc 03 cùng mặt, lúc này người nào đặt cửa lẻ sẽ thắng, người đặt cửa chẵn sẽ thua. Mỗi ván các con bạc đặt cược tối thiểu số tiền là 50.000 đồng, cao nhất là 500.000 đồng. Người cầm cái thu tiền đặt cược của người thua trả tiền cho người thắng, người cầm cái sẽ hưởng số tiền còn thừa của người thua hoặc phải bù lại số tiền còn thiếu cho người thắng.

Số tiền các bị cáo đã dùng để đánh bạc, thắng, thua và bị thu giữ cụ thể như sau: T sử dụng 21.000.000 đồng vào việc đánh bạc, đang thắng 6.700.000 đồng. Thu giữ tại vị trí T ngồi đánh bạc là 27.700.000 đồng; H sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc khi bị bắt thì đang thua 1.200.000 đồng, đặt cửa lần cuối trước khi bị công an bắt là 300.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi đánh bạc là 1.500.000 đồng; K4 sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thì đang thua 2.100.000 đồng, đặt cửa lần cuối trước khi bị công an bắt là 300.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi đánh bạc là 100.000 đồng; T2 sử dụng 2.700.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thì đang thua 200.000 đồng, đặt cửa lần cuối trước khi bị công an bắt là 500.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi đánh bạc là 2.000.000 đồng; K2 sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc, chơi được 05 - 06 ván bị thua hết nên đi về, không đánh bạc nữa; Q sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, thua 2.000.000 đồng, đặt cửa lần cuối trước khi bị bắt là 500.000 đồng.

Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 09 tháng 10 năm 2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 1416/QĐ-VPCQCSĐT; Quyết định khởi tố bị can số 2812, 2813, 2814, 2815, 2816, 2817, 2818/QĐ-VPCQCSĐT ngày 09 tháng 10 năm 2025 đối với Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Quyết định truy tố số 01/QĐ-VKS ngày 10 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng đã truy tố theo thủ tục rút gọn đối với Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Kết thúc phần xét hỏi, kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3; áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn K4, Lâm Văn K2, Đào Văn H; áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q; áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K3, tuyên bố các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 đồng phạm tội Đánh bạc, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo: Phạm Hiếu T từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng; Đào Văn H từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng; Phạm Văn T2, Bùi Văn K4, Nguyễn Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; Lâm Văn K2 từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo từ 24 đến 30 tháng; Nguyễn Văn K3 từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho K3 09 ngày bị tạm giữ bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn K3 trong thời gian cải tạo không giam giữ. Bị cáo Nguyễn Văn K3 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Hình phạt bổ sung: Phạt mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bát bằng sứ; 01 chiếc đĩa bằng sứ; 04 quân vị hình tròn; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 32.900.000 đồng (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Hải Phòng ngày 22-12-2025). Về án phí: Các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 06 tháng 10 năm 2025 tại nhà của Nguyễn Văn K3 ở thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng, Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q đã đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền tiền thì bị bắt quả tang, tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 32.900.000 đồng (Ba mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng). Nguyễn Văn K3 biết các đối tượng đánh bạc trái phép địa điểm do mình quản lý nhưng vì nể nang nên đã đồng ý cho các đối tượng đánh bạc. Như vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 đồng phạm tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K3 sử dụng địa điểm của mình để cho Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q đánh bạc với tổng số tiền là 32.900.000 đồng. Do đó hành vi của các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 vi phạm khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, gây mất trật tự trị an, xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật của N1.

[5] Về vai trò của các bị cáo: Giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể, không có sự cấu kết chặt chẽ nên đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên cũng cần xem xét vai trò đồng phạm của từng bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với mỗi bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, bị cáo Phạm Hiếu T là người giữ vai trò chính, là người cầm cái, chuẩn bị công cụ phạm tội, sử dụng số tiền lớn để đánh bạc, bị cáo H là người giúp sức chuẩn bị công cụ phương tiện, tiếp đến các bị cáo T2, K4, Q, K2, sau cùng là bị cáo K3. Do vậy bị cáo T, H, T2 phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

[6] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đào Văn H có 01 tiền án. Tại Bản án số 07/2021/HS-ST ngày 15-01-2021, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Đào Văn H 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 18-01-2023, bị cáo H chấp hành xong án phạt tù, ngày 04-6-2021 đã nộp xong các khoản tiền án phí, nghĩa vụ dân sự. Tiền án này đến nay đối với Đào Văn H đã được xóa án tích. Theo Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30-9-2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51, Điều 52 Bộ luật Hình sự thì hành vi của Đào Văn H thuộc trường hợp phạm tội lần đầu. Các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 đều phạm tôi lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Văn K4, Lâm Văn K2 sau khi phạm tội đã đầu thú tại cơ quan Công an, bị cáo Đào Văn H có thời gian tham gia Q1, đây là tình tiết giảm nhẹ các bị cáo K4, K2, H được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, để đảm bảo mục đích của hình phạt là răn đe, phòng ngừa tội phạm, đồng thời tạo điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q; áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K3, cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, đồng thời phát huy được tính giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

7

[7] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Về việc khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự bị cáo Nguyễn Văn K3 có thể bị khấu trừ thu nhập. Tuy nhiên, bị cáo có thu nhập thấp và không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Tuy nhiên các bị cáo K3 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ

[9] Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã thu giữ 01 chiếc bát sứ, 01 chiếc đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn và số tiền 32.900.000 đồng. Đối với 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 32.900.000 đồng là do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đào Văn H, Bùi Văn K4, Lâm Văn K2; áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q; áp dụng thêm Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K3.

    Tuyên bố các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 đồng phạm tội Đánh bạc

    - Xử phạt Phạm Hiếu T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 48 (Bốn mươi tám) tháng, thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.

    - Xử phạt Đào Văn H 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.

    - Xử phạt Phạm Văn T2 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 30 (Ba mươi) tháng, thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.

    - Xử phạt Bùi Văn K4 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 30 (Ba mươi) tháng, thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.

    - Xử phạt Nguyễn Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 30 (Ba mươi) tháng, thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.

    - Xử phạt Lâm Văn K2 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.

    Giao các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Phạm Văn T2 cho Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Gia đình các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Phạm Văn T2, Bùi Văn K4, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

    Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự như sau:

    Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ tường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

    Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú; lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

    Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

    Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án

    - Xử phạt Nguyễn Văn K3 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho K3 09 (Chín) ngày bị tạm giữ (từ ngày 06-10-2025 đến ngày 15-10-2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. K3 còn phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành cải tạo không giam giữ tính từ ngày công an cấp xã nhận được quyết định thi hành án.

    Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn K3 trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Bị cáo Nguyễn Văn K3 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong một tuần.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn K3 cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Gia đình bị cáo Nguyễn Văn K3 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

    Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục, trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú, hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm tài liệu có liên quan.

    Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.

    Người chấp hành án cải tạo không giam giữ không được xuất cảnh trong trong thời gian cải tạo không giam giữ.

  2. Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3.
  3. Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn H, Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 mỗi người 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc đĩa sứ, 01 chiếc bát sứ; 04 quân vị hình tròn; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 32.900.000 đồng (Ba mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng) theo Ủy nhiệm chi lập ngày 16-12-2025 tại Kho bạc Nhà nước khu vực III, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Hải Phòng ngày 22-12-2025)
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử các bị cáo Phạm Hiếu T, Đào Văn Hà Bùi Văn K4, Phạm Văn T2, Lâm Văn K2, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn K3 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án,

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND Khu vực 7 - Hải Phòng
  • - Công an thành phố Hải Phòng (PC01; PV06; PC10);
  • - Thi hành án dân sự Hải Phòng;
  • - UBND xã Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng;
  • - UBND phường Mao Điền, tỉnh Bắc Ninh
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự đối với Phạm H T và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger