Hệ thống pháp luật
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 58/2026/HS-PT
Ngày 21-01-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
Ông Dương Anh Văn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Như Lạc - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 14 và 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 442/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Võ Lê T, Cao Văn H do có kháng cáo của các bị cáo và người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 236/2025/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Võ Lê T, sinh năm 1980 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi thường trú: Số B, tổ B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai); Nơi ở hiện nay: Số A đường Đ, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Kinh doanh nhà nghỉ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hoàng H1, sinh năm 1949 và bà Lê Thị L1, sinh năm 1953; bị cáo có 06 anh chị, bị cáo là con út; bị cáo có vợ là bà Nguyễn Vũ Kim P, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và có 05 con (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: không; tạm giam từ ngày 24/6/2024 đến nay (bị cáo có mặt).
  2. Cao Văn H, sinh năm 1984 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: 4 tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn S, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1950; bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; bị cáo có vợ là bà Bùi Thị T2, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 24/6/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 1234/LTG ngày 03/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Đến ngày 24/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa hủy bỏ biện pháp tạm giam và Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 20/1/2025 bị cáo bị bắt lại theo lệnh bắt bị cáo để tạm giam số 114/LB ngày 16/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (bị cáo có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo T và bị cáo H: Bà Lê Thị Quỳnh A – Luật sư, Công ty L2 và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

- Bị hại có kháng cáo: Ông Lê Văn T3, sinh năm 1989 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); Nơi cư trú: Tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).

(Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Thị O và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Lê T và anh Lê Văn T3 quen biết nhau. Từ ngày 08/6/2022 đến tháng 11/2022, T nhiều lần cho anh T3 vay tổng cộng số tiền 2.510.000.000 đồng để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Đến ngày 30/01/2024, anh T3 đã trả lại cho T số tiền 2.231.700.000 đồng, còn nợ lại 278.300.000 đồng. Thấy anh T3 không tiếp tục trả nợ, nên T nhiều lần tìm gặp để đòi tiền nhưng anh T3 né tránh không gặp. Ngày 19/6/2024, T được người quen là anh Nguyễn Trung H2 báo anh T3 đang ở quán C, địa chỉ: N, đường N, khu phố G, phường T, thành phố B. T nói với Cao Văn H chở đến gặp anh T3 để đòi nợ. Khi gặp anh T3, T yêu cầu T3 đưa 02 điện thoại cho H giữ sau đó T điều khiển xe ô tô chở anh T3 ngồi giữa, H ngồi ngoài cùng đưa anh T3 về nhà nghỉ N để đòi tiền nợ. Tại đây, T và H dùng tay tát vào mặt anh T3, dùng búa cao su đánh vào vai, đầu gối và đùi của anh T3 để ép trả nợ. T3 đã nhờ người thân chuyển 60.000.000 đồng vào tài khoản của T và viết giấy nhận nợ 2.000.000.000 đồng mới được thả về.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Xét đơn kháng cáo của các bị cáo Võ Lê T, Cao Văn H và bị hại Lê Văn T3 hợp lệ, nộp trong thời hạn quy định của pháp luật, đủ điều kiện thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Hành vi của các bị cáo Võ Lê T và Cao Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tự do, sức khỏe và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội "Giữ người trái pháp luật" và tội "Cướp tài sản" là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Lê T: Hội đồng xét xử thấy rằng mức án 13 năm 09 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã nộp thêm tiền bồi thường và có thái độ ăn năn hối cải, nhưng xét thấy vai trò chủ mưu nên không có căn cứ giảm nhẹ thêm.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Cao Văn H: Bị cáo H có vai trò giúp sức, tại cấp phúc thẩm đã nộp thêm tiền khắc phục hậu quả, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H để thể hiện sự khoan hồng.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Lê T; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại Lê Văn T3 và bị cáo Cao Văn H, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 236/2025/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
    • 1.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Lê T và bị cáo Cao Văn H phạm tội "Giữ người trái pháp luật" và tội "Cướp tài sản".
    • 1.2. Về áp dụng pháp luật và hình phạt:

      Xử phạt bị cáo Võ Lê T 09 (chín) tháng tù về tội "Giữ người trái pháp luật"; 13 (mười ba) năm tù về tội "Cướp tài sản". Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 13 (mười ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2024.

      Xử phạt bị cáo Cao Văn H 06 (sáu) tháng tù về tội "Giữ người trái pháp luật"; 11 (mười một) năm tù về tội "Cướp tài sản". Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 24/6/2025 đến 24/9/2025.

  2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Lê T phải chịu 200.000đ án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu (Án - Trúc).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Ngọc Hoa
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2026/HS-PT ngày 21/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự

  • Số bản án: 58/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger