Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/DS-PT

Ngày 29 - 12 - 2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phi Long

Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thu Hương

Bà Hoàng Hải Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai: Ông Trần Xuân Phong - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 29/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2025/TLPT-DS ngày 14/10/2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DSST-BX ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 146/2025/QĐXXPT-DS ngày 02/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 161/2025/QĐ-PT ngày 16/12/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Chị Phạm Thị Kim T - Sinh năm 1978: Số CCCD: 015178000802

    Địa chỉ: Số nhà C, đường Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã B, tỉnh Lào Cai). Vắng mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn:

    - Ông Vũ Minh Q – Số CCCD: 015067003985

    Địa chỉ: Tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai (nay là Tổ dân phố số B C, phường L, tỉnh Lào Cai). Có mặt tại phiên toà.

  2. Bà Nguyễn Thị M – Số CCCD: 034166007637

    Địa chỉ: Tổ E, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là Thôn E, xã B, tỉnh Lào Cai). Có mặt tại phiên toà.

    (Hợp đồng ủy quyền ngày 24/12/2025)

  3. Bị đơn:

    - Ông Nùng Văn K - Sinh năm 1954. SỐ CCCD: 010054000050;

    - Chị Nùng Thị Minh T1 - Sinh năm 1979. Số CCCD: 015179009230;

    - Anh Hạng Xuân C - Sinh năm 1977. Số CCCD: 010077004794.

    Cùng địa chỉ: Tổ D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã B, tỉnh Lào Cai).

    Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn ông Nùng Văn K: Anh Nùng Quốc K1.

    Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn anh Hạng Xuân C: Chị Nùng Thị Minh T1

    - Địa chỉ: Tổ D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã B, tỉnh Lào Cai). Có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1: Chị Trần Thị Minh A và chị Nguyễn Thị L

    - Địa chỉ: Số B, ngõ A, phố M, phường T, thành phố Hà Nội (Giấy ủy quyền ngày 12/12/2025). (Chị A vắng mặt, chị L có mặt tại phiên tòa).

    Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1:

    Bà Nguyễn Thị T2 – Số CCCD: 025184016584. Luật sư, Công ty L5, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số B, ngõ A, phố M, phường T, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.

  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị S

    - Sinh năm 1957. Số CCCD: 010157004836.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị S: Anh Nùng Quốc K1

    - Sinh năm 1987. Số CCCD: 010087000300

    Cùng địa chỉ: Thôn D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã B, tỉnh Lào Cai). (Anh K1 có mặt tại phiên tòa).

  5. Người kháng cáo: Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Phạm Thị Kim T trình bày:

Năm 2008 chị Phạm Thị Kim T có nhận chuyển nhượng 01 thửa đất của ông T3 bà T với diện tích là 100m² đất có chiều dài 20m, chiều rộng 5m, địa chỉ thửa đất: Tổ A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Tại thời điểm nhận chuyển

nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: GCNQSDĐ) mang tên bà Nguyễn Thị N vì ông T3 bà T khi mua chỉ viết giấy viết tay chưa làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy mặc dù mua đất của ông T3 bà T nhưng chị Phạm Thị Kim T làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị N. Sau khi ký hợp đồng các bên đã làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Ngày 14/11/2008 chị T được cấp GCNQSDĐ số AM 674171, số vào sổ H- 01520 theo Quyết định số 2384/QĐ- UBND ngày 14/11/2008 do Ủy ban nhân dân (viết tắt: UBND) huyện B.

Năm 2011 do có nhu cầu về chỗ ở chị T đã xây dựng trên đất 01 ngôi nhà cấp 4, trước khi xây dựng chị T đã mời cán bộ địa chính thị trấn B trực tiếp đến xác định ranh giới, phạm vi xây dựng. Khi đang thực hiện việc giác móng và đào móng để xây dựng thì gia đình ông Nùng Văn K, vợ là bà Trương Thị S là bố mẹ đẻ của chị Nùng Thị Minh T1 ra nhận khoảng 15m² đất nằm ở phía sau, không cho chị T xây nhà. Phần diện tích đất này nằm trong diện tích đất mà chị T đã được cấp GCNQSDĐ và cũng được cán bộ địa chính của thị trấn xác định ranh giới, mốc giới để xây dựng nhà ở. Chị T đã nhiều lần trao đổi trực tiếp với ông K, bà S nhưng không thống nhất được. Vì vậy, chị T đã làm đơn đề nghị UBND thị trấn B, huyện B hòa giải nhưng không thành. Do đó chị T đã để lại diện tích đất khoảng 15m² không xây dựng và chỉ làm nhà trên diện tích khoảng 80 - 85m² trong tổng số diện tích đất 100m² đã được cấp GCNQSDĐ.

Sau này chị T được biết khoảng năm 2003 ông K và bà S để lại cho con gái là chị Nùng Thị Minh T1 diện tích khoảng 2m mặt đường, chị Nùng Thị Minh T1 và chồng là anh Hạng Xuân C có mua thêm 2m mặt đường của nhà ông B bên cạnh để đủ 4m mặt đường để làm nhà ở, phần phía sau nhà chị T1, anh C tiếp giáp với phần đất khoảng 15m² đất mà ông K, bà S đang tranh chấp với chị T. Chị T1, anh C đã rào cả phần diện tích đất khoảng 15m² đang tranh chấp, chị T đã nhiều lần trao đổi nhưng vợ chồng chị T1, anh C không di chuyển hàng rào ra khỏi phần đất này. Chị T lại tiếp tục làm đơn đến UBND thị trấn B và Phòng Tài nguyên môi trường huyện B xem xét giải quyết. Ngày 20/3/2025 và ngày 01/4/2025 UBND thị trấn B tổ chức hòa giải, chị T đã đưa ra phương án hỗ trợ gia đình ông Nùng Văn K, bà Trương Thị S tiền công đổ đất vào diện tích đất đang tranh chấp là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) và yêu cầu chị T1, anh C phải trả lại đất cho chị T nhưng không thành.

Vì vậy chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nùng Văn K, chị Nùng Thị Minh T1, anh Hạng Xuân C trả lại cho chị Phạm Thị Kim T diện tích đất 20,6m² (theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai) tiếp giáp phía sau nhà vợ chồng chị Nùng Thị Minh T1, anh Hạng Xuân C, nằm trong diện tích 100m² đất mà chị Phạm Thị Kim T được cấp GCNQSDĐ số AM 674171, số vào sổ: H- 01520 theo Quyết định số: 2384/QĐ- UBND ngày 14/11/2008 do UBND huyện B cấp mang tên Phạm Thị Kim T.

Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1 đồng thời cũng là Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nùng Văn K, anh Hạng Xuân C trình bày:

Phần diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc là năm 1992 bố mẹ chị Nùng Thị Minh T1 là ông Nùng Văn K, bà Trương Thị S mua của bà Nguyễn Thị X ở Đ, hợp tác xã B1 thuộc xã B với diện tích 232m² đất giáp với thửa đất thổ cư của ông K, bà S đang sử dụng. Diện tích đất này chưa được cấp GCNQSDĐ nên khi mua bán hai bên có viết giấy chuyển nhượng đất ngày 11/8/1992 với giá 116.000đồng (Một trăm mười sáu nghìn đồng) có xác nhận của UBND xã B và có người làm chứng. Trong quá trình sử dụng đất, phía sau nhà có ruộng nên ông K, bà S đã đổ đất tôn tạo và sử dụng thêm khoảng hơn 100m² đất phía sau nhà sử dụng ổn định không xảy ra tranh chấp. Ông K, bà S đã trồng rau, nuôi lợn, làm đất ươm cây giống gồm: Cây mỡ, quế, bạch đàn, keo để trồng rừng. Quá trình sử dụng đất gia đình bà sử dụng lâu dài, ổn định và nộp thuế theo quy định của nhà nước. Năm 2002 ông K, bà S tặng cho chị T1 diện tích đất 50m² trong tổng số diện tích 150m² đất thổ cư mà ông K, bà S đã được cấp GCNQSDĐ và khoảng 70m² đất chưa được cấp GCNQSDĐ mà ông K mua của bà Nguyễn Thị X. Ngày 16/6/2002 chị Thu M1 thêm 2m mặt đường của ông Nguyễn Đức B với giá 13.000.000đồng (Mười ba triệu đồng) để đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ. Đến năm 2007 gia đình chị T1 được cấp GCNQSDĐ. Diện tích đất hiện tranh chấp (khoảng 15m²) với chị T không nằm trong phần diện tích đất mà gia đình chị T1 đã được cấp GCNQSDĐ mà là phần phía sau, hiện nay chị T1 đang quản lý, sử dụng diện tích đất này vào mục đích trồng rau, nuôi gà.

Đến nay chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình chị Nùng Thị Minh T1, ông Nùng Văn K, anh Hạng Xuân C phải trả lại diện tích đất sau khi đã xem xét thẩm định là 20,6m² đất và buộc chị Nùng Thị Minh T1, anh Hạng Xuân C phải chấm dứt việc sử dụng trái phép đối với diện tích 20,6m² đất là không có căn cứ. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S là anh Nùng Quốc K1 trình bày:

Bà Trương Thị S là vợ của ông Nùng Văn K, là mẹ của chị Nùng Thị Minh T1 (chồng là anh Hạng Xuân C). Bà S nhất trí với những nội dung mà ông K, chị T1, anh C đã trình bày, không bổ sung thêm gì khác. Đối với yêu cầu khởi kiện thì quan điểm của bà S cũng giống ông K, chị T1, anh C là không nhất trí, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T.

Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DSST-BX ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai đã quyết định:

Căn cứ Điều 5, khoản 9 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 48, khoản 5 Điều 49 của Luật Đất đai 2003; Khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 236 của Luật Đất đai 2024; Điều 164, Điều 168, Điều 169 của Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Kim T.

  2. Buộc ông Nùng Văn K, chị Nùng Thị Minh T1, anh Hạng Xuân C phải trả lại diện tích: 20,6m² đất (Theo hồ sơ xem xét thẩm định tại chỗ của tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, nay là Tòa án nhân dân khu vực 7- Lào Cai) Đất ở đô thị thuộc thửa 85, tờ bản đồ số P10 - 5, địa chỉ thửa đất tại: tổ A cũ, sau đó là tổ E, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM674171 số vào sổ cấp GCN- QSD đất: H- 01520 tại Quyết định số 2384/QĐ- UBND ngày 14/11/2008 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp mang tên chị Phạm Thị Kim T.

    Buộc chị Nùng Thị Minh T1, anh Hạng Xuân C phá dỡ toàn bộ số rau đang trồng và di chuyển việc nuôi gà ra khỏi phần diện tích đất nêu trên.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên cụ thể về các cạnh thửa, vị trí của diện tích đất tranh chấp, về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án cho các đương sự

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/8/2025 bị đơn chị Nùng Thị Minh T1 và ngày 04/9/2025 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S (người đại diện theo ủy quyền là ông Nùng Quốc K1) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn chị Phạm Thị Kim T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn chị Phạm Thị Kim T là ông Vũ Minh Q, bà Nguyễn Thị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không nhất trí với kháng cáo của Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1, Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn chị T1 là chị Nguyễn Thị L đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. Người đại diện theo uỷ quyền của Bị đơn ông Nùng Văn K và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S là anh Nùng Quốc K1 có ý kiến nhất trí với nội dung kháng cáo của chị T1.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1 là bà Nguyễn Thị T2 trình bày về việc tại phiên toà người kháng cáo thay đổi nội dung kháng cáo từ yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm thành huỷ bản án sơ thẩm. Lý do: Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ và chứng minh không đúng quy định, chưa được thực hiện đầy đủ mà tại cấp phúc thẩm không thể thu thập bổ sung được. Cụ thể:

Thứ nhất, căn cứ hồ sơ vụ án và phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa xác định ngoài GCNQSDĐ thì nguyên đơn chị T không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Chị T trình bày nguồn gốc đất là do bà nhận chuyển nhượng của ông T3, ông T3 chuyển nhượng đất của bà N nhưng hồ sơ vụ án không có Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà N với ông T3. Các đương sự, người làm chứng trình bày về việc bà N được cấp quyền sử dụng đất năm 1995 nhưng đến năm 2002 mới được cấp GCNQSDĐ là không phù hợp. Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm không thu thập hồ sơ cấp GCNQSDĐ ban đầu cho bà Nghĩa L1 thiếu sót.

Thứ hai, diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích đất ông K mua của bà X, giấy tờ mua bán viết tay có xác nhận của UBND xã ngày 26/4/1993. Ngoài ra, bị đơn cung cấp xác nhận của những người làm chứng xác định có việc chuyển nhượng. Vì vậy, có đủ căn cứ chứng minh thời điểm gia đình ông K bắt đầu sử dụng đất từ năm 1992. Sau đó gia đình chị T1 quản lý, sử dụng ổn định, liên tục để trồng rau, nuôi gà. Trong hồ sơ đã có đủ căn cứ xác định quá trình sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, đã nộp thuế cho nhà nước của gia đình ông K.

Quá trình sử dụng gia đình ông K không nhận được Thông báo hay Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thu hồi đất. Thời điểm cấp GCNQSDĐ cho bà N năm 2002 thì áp dụng Luật Đất đai 1993, trong khi thực tế diện tích đất cấp cho bà N vẫn đang do gia đình ông K quản lý, sử dụng, không thu hồi đất của ông K mà vẫn cấp GCNQSDĐ cho bà Nghĩa L1 không đúng.

Thứ ba, trong suốt quá trình từ khi bà N được cấp GCNQSDĐ thì chưa bao giờ phát sinh tranh chấp với gia đình ông K. Tại Biên bản ghi lời khai bà N đều xác định không có tranh chấp với bất kỳ ai. Năm 2008 chị T nhận chuyển nhượng thanh toán tiền cho ông T3 và ký Hợp đồng chuyển nhượng với bà N, từ năm 2008 không phát sinh tranh chấp.

Thứ tư, trong hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N với chị T không có căn cứ chứng minh việc khi nhận chuyển nhượng đã đo đạc, xác định ranh giới diện tích đất nhận chuyển nhượng; không có biên bản bàn giao đất giữa các bên với nhau để xác định ranh giới, diện tích đất. Ngoài ra, việc chị T nhận chuyển nhượng có dấu hiệu trốn thuế, trường hợp đương sự không có yêu cầu thì căn cứ Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án cũng cần xem xét, đưa cơ quan có thẩm quyền vào tham gia tố tụng để làm rõ sai sót.

Thứ năm, Bị đơn ông K, chị T1 xác nhận việc đổ đất nhiều lần trong nhiều năm, Nguyên đơn chị T cũng biết rõ việc gia đình bị đơn đổ đất, đã xin xây dựng và thanh toán số tiền 1.000.000 đồng cho ông K. Việc này chứng minh nguyên đơn chị T thừa nhận gia đình ông K đã đổ đất vào phần đất tranh chấp này. Đến thời điểm năm 2011 khi chị T xây nhà mặc dù 02 gia đình có xảy ra tranh chấp nhưng chị T không gửi đơn đề nghị giải quyết mà vẫn xây dựng theo diện tích đang quản lý, sử dụng.

Thứ sáu, Toà án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cụ thể:

Diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích 232m² mua của bà Nguyễn Thị X, mặc dù bà Nguyễn Thị X đã chết nhưng cũng cần thiết đưa những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà X vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoặc người làm chứng để xác minh, thu thập bổ sung tài liệu.

Theo Đơn khởi kiện chị T trình bày diện tích tranh chấp do chị T1, anh C đang quản lý, yêu cầu buộc gia đình chị T1 trả lại đất. Theo đó phải xác định quan hệ pháp luật của vụ án là đòi lại quyền sử dụng đất, ông Nùng Văn K chỉ là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông K phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên ông K thuộc đối tượng được miễn án phí, Tòa án tuyên ông K phải chịu án phí là không đúng.

Khi Tòa án xét xử thì Luật Đất đai 2024 đã có hiệu lực thi hành, Bản án sơ thẩm căn cứ vào quy định đã hết hiệu lực là sai sót.

Vì vậy, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm căn cứ quy định tại Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng như nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định theo Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Nùng Thị Minh T1 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 01/2025/DSST-BX ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai; Tuyên án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về hình thức đơn kháng cáo:

Đơn kháng cáo của Bị đơn bà Nùng Thị Kim T4 và Người đại diện theo ủy quyền của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S là ông Nùng Quốc K1 có đầy đủ các nội dung theo mẫu đơn, việc làm đơn kháng cáo của ông Nùng Quốc K1 trong phạm vi được ủy quyền và đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, nên được xác định là hợp lệ.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của Bị đơn bà Nùng Thị Kim T4 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S:

[2.1] Về việc xác định diện tích đất tranh chấp:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất tranh chấp. Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/5/2025 xác định diện tích đất tranh chấp là 20,6m² nằm trong diện tích đất 98,9m² thuộc thửa đất số 85, tờ bản đồ P10-5, đất ở đô thị theo GCNQSDĐ số AM 674171, số vào sổ H-01520 mang tên chị Phạm Thị Kim T theo Quyết định số 2384/QĐ-UBND ngày 14/11/2008 của UBND huyện B (kết quả đo đạc ngoài thực địa giảm 1,1m² so với GCNQSDĐ do hình dạng thửa đát chéo với đường). Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ Nguyên đơn chị T, hộ giáp ranh, tổ trưởng tổ dân phố và các cơ quan tham gia đều nhất trí với kết quả đo đạc. Bị đơn chị Nùng Thị Kim T4 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S không nhất trí với kết quả đo đạc. Xét thấy, chị T4 và bà S không nhất trí với kết quả đo đạc vì cho rằng diện tích đất tranh chấp là của ông K, bà S mua của bà Nguyễn Thị X từ năm 1992 chứ không phải có ý kiến về số liệu, phương pháp đo đạc. Vì vậy, xác định diện tích đất tranh chấp theo kết quả đo đạc tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/5/2025.

[2.2]. Về nguồn gốc đất và căn cứ pháp lý về quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án thấy rằng diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là thửa đất số 63, tờ bản đồ số BXM, diện tích 100m2 được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số W137978, số vào sổ 00275 ngày 08/8/2002 cho hộ bà Nguyễn Thị N, địa chỉ thửa đất tại: Tổ E, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Ngày 22/7/2008, giữa bà Nguyễn Thị N với chị Phạm Thị Kim T ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể chuyển nhượng diện tích đất theo GCNQSDĐ số vào sổ 00275. Sau đó các bên đã làm thủ tục chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chị Phạm Thị Kim T được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số AM 674171, số vào sổ H-01520 ngày 14/11/2008.

Nguyên đơn chị T trình bày về việc bà mua đất của vợ chồng ông T3 bà T, nguồn gốc là do ông T3 bà T mua của bà Nguyễn Thị N nhưng chưa làm thủ tục sang tên trên GCNQSDĐ nên khi mua các bên thống nhất là chị T ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà N để làm thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã lấy lời khai của người làm chứng bà Nguyễn Thị N. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 16/7/2025 bà N trình bày về nguồn gốc diện tích đất hiện đang tranh chấp giữa chị T với gia đình ông

K, chị T4 và anh C nằm trong thửa đất bà N được cấp từ năm 1995, sau đó đã được cấp GCNQSDĐ. Do không có nhu cầu sử dụng nên bà N đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T3, bà T nhưng không làm thủ tục chuyển nhượng mà chỉ biết giấy mua bán viết tay và giao GCNQSDĐ cho ông T3, bà T. Xét thấy, lời khai của bà N phù hợp với lời khai của chị T.

Bị đơn đồng thời là Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nùng Văn K, anh Hạng Xuân C là chị Nùng Thị Minh T1 cho rằng nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là do vợ chồng ông K, bà S mua của bà Nguyễn Thị X ở đội B, Hợp tác xã B1, khi mua diện tích đất này chưa được cấp GCNQSDĐ, hai bên có viết giấy chuyển nhượng đất ngày 11/8/1992 với giá 116.000 đồng. Sau đó ông K, bà S sử dụng đất ổn định để canh tác, trồng rau, nuôi lợn. Năm 2002, ông K, bà S tặng cho chị T1 một phần diện tích đất trong đó đất thổ cư đã được cấp GCNQSDĐ và 70m² đất chưa được cấp GCNQSDĐ (mua của bà X). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S (vợ của ông K) cũng thống nhất nội dung trình bày về nguồn gốc đất với chị T1. Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cung cấp tài liệu, chứng cứ là Giấy nhượng đất ngày 11/8/1992 giữa bà Nguyễn Thị X với ông Nùng Văn K, tuy nhiên nội dung giấy tờ không xác định được vị trí diện tích đất chuyển nhượng như thế nào, có trùng với vị trí diện tích đất tranh chấp hay không. Ngoài ra, các đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là gia đình ông K, bà S mua của bà X, sau đó tặng cho lại chị T1. Đối với việc chị T1 cho rằng từ khi mua đất của bà X thì bố mẹ chị là ông K, bà S đã sử dụng đất ổn định, nộp thuế theo quy định của nhà nước nhưng phía bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quá trình sử dụng đất lâu dài, ổn định đối với diện tích đất tranh chấp. Do đó, không có căn cứ để xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tranh chấp như lời trình bày của chị T1 cũng như ông K, anh C và bà S.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm đã thu thập tài liệu, chứng cứ là hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị N với chị Phạm Thị Kim T. Căn cứ các chứng cứ đã thu thập được thấy rằng thửa đất số 85, tờ bản đồ P10-5, diện tích 100m2 được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ (lần đầu) cho bà N, sau đó chuyển nhượng cho chị T. Quá trình cấp GCNQSDĐ cho bà N cũng như chuyển nhượng và cấp GCNQSDĐ cho chị T không có khiếu nại, khiếu kiện gì liên quan đến việc có sự chồng chéo với diện tích đất của các hộ giáp ranh, liền kề. Việc cấp GCNQSDĐ cho chị T là phù hợp với quy định của pháp luật, đây là căn cứ pháp lý chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của chị T đối với diện tích đất 100m² thuộc thửa đất số 85, tờ bản đồ P10-5. Diện tích đất hiện nay đang tranh chấp giữa chị T với gia đình ông K, bà S và chị T1, anh C nằm trong diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ cho chị T. Bị đơn chị T1 cho rằng diện tích đất nhà chị T bị thiếu là do thị trấn mở rộng diện tích đường và lùi hành lang nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó, việc gia đình chị T1 quản lý, sử dụng diện tích đất này là không đúng, vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng đất, xâm phạm quyền của chủ sử dụng đất hợp pháp là chị

T. Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm Bị đơn chị T1 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà S (người được ủy quyền là ông K1) đều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc gia đình mình sử dụng diện tích đất đất là hợp pháp, có căn cứ pháp lý.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà phúc thẩm, Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1 và Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn ông Nùng Văn K (giao nộp văn bản uỷ quyền tại phiên toà) và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S là anh Nùng Quốc K1 giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ gồm Giấy xác nhận của ông Đoàn Xuân T5, ông Đinh Quang L2 đề ngày 16/9/2025 và ông Phan Văn H đề ngày 15/9/2025, Giấy xác nhận đề ngày 27/12/2025 của bà Hoàng Thị Quỳnh L3 và Văn bản số 1708/UBND-KT ngày 18/12/2025 của UBND xã B v/v trả lời đơn đề nghị của ông Nùng Quốc K1. Xét thấy, ông T5, ông L2, ông H, bà L3 đều xác nhận về việc ngày 11/8/1992 ông K có mua đất của bà Nguyễn Thị X ở thôn B, xã B, B, Lào Cai với diện tích 232m², tuy nhiên những người làm chứng không xác định diện tích hiện đang tranh chấp giữa chị T với gia đình ông K có nằm trong diện tích đất ông K đã mua của bà X hay không. Đối với Văn bản số 1708/UBND-KT ngày 18/12/2025 thấy rằng UBND xã B cung cấp thông tin về việc:

“Theo Quyết định số 108/2003/QĐ-UBND ngày 16/36/2004 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng và mở rộng thị trấn huyện B, tỉnh Lào Cai thì quy mô tuyến đường được quy hoạch như sau: Quy mô đường Đ (theo quy hoạch năm 2004): Chiều rộng nền đường B = 12m, trong đó chiều rộng mặt đường là Bm = 6m, vỉa hè 2 bên đường mỗi bên rộng 3m (B = 2x3m).

Đến năm 2010 quy hoạch chi tiết thị trấn B được điều chỉnh tại Quyết định số 1865/QĐ-UBND ngày 08/7/2010 của UBND tỉnh L. Sau khi điều chỉnh quy hoạch, quy mô đường Đông Phón như sau: Chiều rộng nền đường B = 9m, trong đó chiều rộng mặt đường là Bm = 6m, vỉa hè 2 bên đường mỗi bên rộng 1,5m (B = 2x1,5m).

Từ năm 2010 đến nay quy hoạch tại khu vực này giữ ổn định không có sự thay đổi.”

Theo đó, xác định từ năm 2004 đến nay quy mô tuyến đường Đông Phón theo quy hoặc được điều chỉnh 01 lần (năm 2010), cụ thể chiều rộng vỉa hè 02 bên đường giảm từ 03m xuống 1,5m. Việc bị đơn cho rằng diện tích đất nhà chị T bị thiếu do mở rộng đường là không có căn cứ. Do đó, chứng cứ mà chị T1 và anh K1 nộp bổ sung không phải căn cứ chứng minh quyền sử dụng hợp pháp của gia đình bị đơn đối với diện tích đất tranh chấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo cũng không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh nội dung kháng cáo là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị

Nùng Thị Minh T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DSST-BX ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai là có căn cứ đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

[4] Đối với ý kiến của Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Bị đơn chị T1 tại phiên toà, trên cơ sở những nhận định ở phần trên xét thấy không có căn cứ chấp nhận. Đối với ý kiến cho rằng Toà án sơ thẩm tuyên buộc ông Nùng Văn K phải chịu án phí sơ thẩm là không đúng với lý do ông K là người cao tuổi thuộc đối tượng được miễn án phí thấy rằng: Tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án quy định: “Người đề nghị được miễn, giảm tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, án phí, lệ phí Tòa án thuộc trường hợp quy định tại Điều 12, Điều 13 của Nghị quyết này phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, giảm”. Tuy nhiên tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm ông K không có Đơn đề nghị được miễn án phí nên không có căn cứ để xem xét, giải quyết.

[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do kháng cáo không được chấp nhận nên Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn chị Nùng Thị Minh T1 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị S.

    Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DSST-BX ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Chị Nùng Thị Minh T1 và bà Trương Thị S phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị Nùng Thị Minh T1 và bà Trương Thị S (do anh N1 Quốc Kỹ nộp thay) mỗi người đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E, số 0000790 và số 0000791 ngày 10/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Chị Nùng Thị Minh T1 và bà Trương Thị S đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thu Hương Hoàng Hải A1 Đặng Phi L4
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 58/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger