Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 57/2026/HS-PT

Ngày: 30 - 01 - 2026

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Hồng Hạnh

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nga

Ông Nguyễn Văn Nhân

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Khánh Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên Tòa: bà Đàm Thị Vang - Kiêm sát viên.

Ngày 23 và ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 433/2025/HSPT ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Lê Hải L, Lê Quang V.

Do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

1/ Họ và tên: Lê Hải L, sinh năm 1971 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: khu phố L, phường P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công T (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1948; bị cáo có vợ tên Trần Thị H (đã ly hôn), bị cáo có 01 người con sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

Ngày 27/01/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long xử phạt 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự theo bản án số: 08A/2021/HS-ST. Bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 07/6/2024 thì được tại ngoại cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

2

2/ Họ và tên: Lê Quang V, tên gọi khác: L1, sinh năm 1982 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: khu phố C, phường P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q, sinh năm 1958 và Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1958; bị cáo có 01 người em sinh năm 1984, bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án; tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 04/10/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đã được xóa án tích.

- Ngày 09/12/2021 bị Chủ tịch UBND phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường trong thời hạn 3 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 17/6/2024 thì được tại ngoại cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Nhâm Thị T2, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: khu phố T, phường P, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thế A, sinh năm: 1986; Địa chỉ: Số D quốc lộ A, phường B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Thi Văn K, sinh năm: 1963; Địa chỉ: khu phố L, phường P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Ông Lê Hồng P, sinh năm: 1967; Địa chỉ: khu phố L, phường P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm: 1958; Địa chỉ: khu phố C, phường P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Ông Trần Nam H1, Địa chỉ: khu phố L, phường P, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

Ông Thái Văn C, sinh năm: 1987; Địa chỉ: khu phố I, phường P, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

- Người làm chứng:

Ông Nguyễn Văn G, sinh năm: 1971; Địa chỉ: khu phố T, phường P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị Thùy T3, sinh năm: 1995; Địa chỉ: khu phố T, phường P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Bà Lê Thị D, sinh năm: 1971; Địa chỉ: khu phố H, phường P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

3

Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm: 1976; Địa chỉ: khu phố T, phường P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Ông Phạm Quốc C1, sinh năm: 1992; Địa chỉ: khu phố P, phường P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 1967; Địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2022, bà Nhâm Thị T2, sinh năm: 1969, trú tại: khu phố D, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước thuê Công ty TNHH MTV “Hải Đăng” (do Lê Hải L làm giám đốc) thiết kế lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng và trang trí nội thất cho Phòng trà của bà T2 tại khu phố D, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Sau khi thoả thuận với bà T2 thì L tiến hành lập bản thiết kế và thuê công nhân, mua vật tư để thi công hệ thống đèn và trang trí bên trong phòng trà.

Sáng ngày 28/11/2022, L cùng Lê Quang V; Nguyễn Văn P1; Phạm Quốc C1 và Nguyễn Thành Đ (là công nhân của Công ty “Hải Đăng” thuê) đến nhà của bà T2 để tiếp tục thi công. Đến khoảng 16 giờ 00 cùng ngày, do thiếu máy hàn nên L đi mua thêm một cái máy hàn mang về đưa cho V. Sau đó, V mang máy hàn, que hàn vào ổ cắm điện lên tầng hai ngôi nhà của bà T2 rồi leo qua cửa sổ để chui vào khoảng giữa la phông và mái tôn của phòng trà và hàn cây ty sắt vào đòn tay bằng sắt la phông. Khi đến vị trí cần hàn cây ty sắt, V để máy hàn và que hàn xuống rồi cầm ổ điện dài khoảng 07m quay lại tầng 2 ngôi nhà. V cắm phích điện vào ổ điện ở tầng hai để lấy điện rồi kéo dây điện đến vị trí máy hàn. V cắm đầu dây máy hàn vào ổ điện rồi bật công tắc điện của máy hàn lên. Tiếp đó, V kẹp cực âm (dây mát) máy hàn vào cây đòn tay bằng sắt rồi một tay V cầm cây ty bằng sắt, một tay V cầm mỏ hàn và bắt đầu hàn. V hàn được khoảng 2-3 mối hàn thì cây ty sắt đã được cố định với cây sắt đỡ của mái tôn. Trong quá trình hàn thì tạo ra hiện tượng bắn hạt xi hàn nên gây cháy chất phoam cách âm ở la phông vì vậy khi hàn xong, V cảm thấy nóng phía sau lưng mình và quay lại nhìn thì thấy một đám cháy ở khu vực la phông, có đường kính khoảng 0,6m và cách V khoảng một mét. Thấy cháy thì V liền dùng áo để giập lửa nhưng lửa cháy càng lớn và lan rộng ra. V liền chạy xuống nhà báo và kêu mọi người cùng chữa cháy, tuy nhiên do phòng trà có nhiều vật liệu dễ cháy nên đám cháy tiếp tục bùng phát và cháy lan sang ngôi nhà cấp 3 bên cạnh của bà T2. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày đám cháy được giập tắt.

Tại bản Kết luận giám định số: 477/KL-KTHS ngày 13/01/2023 và ngày 17/01/2023 của C09Bộ C2 kết luận:

  • - 01 (một) đoạn dây điện bị cháy lớp vỏ cách điện làm lộ lõi đồng (Mẫu vật số 1) và đoạn dây điện bị cháy mất lớp vỏ cách điện (thu ở vị trí số 2) gửi giám định không tìm thấy dấu vết chập điện.

4

  • - Đoạn dây điện bị cháy mất lớp vỏ cách điện có các hạt kim loại vón cục bám dính (thu ở vị trí số 4) gửi giám định không cùng loại với mẫu dây điện (mẫu vật số 1) và (thu ở vị trí số 2). Không phát hiện thấy dấu vết chạm chập điện trên mẫu dây điện (thu ở vị trí số 4). Không đủ cơ sở xác định 01 (một) que hàn gửi giám định đã qua sử dụng hay chưa qua sử dụng.
  • - Máy hàn điện và kẹp que, kẹp mát (thu ở vị trí số E, số F, và số 7) gửi giám định không phát hiện thấy dấu vết chạm chập điện.
  • - Sản phẩm cháy trong 02 túi niêm phong mã số: 063598 và 063563 đều không tìm thấy thành phần xăng, dầu.

Ngày 19/01/2024, C09Bộ C2 có công văn số 151/CV-C09B trả lời làm rõ kết luận giám định:

  • - Các hạt kim loại nóng chảy hình thành trong quá trình hàn hồ quang văng ra mang nhiệt độ khoảng 1500 0C-18000C, vùng nguy hiểm lan truyền của các hạt kim loại hàn nóng chảy từ chỗ hàn trung bình khoảng 5m. Khi các hạt kim loại hàn nóng tiếp xúc với các vật liệu dễ cháy thì có khả năng gây cháy.
  • - Không có cơ sở xác định dòng điện ở đầu nối dây điện quạt trần nếu để sát với thanh sắt có kẹp dây mát máy hàn điện hồ quang thì có thể tạo ra hiện tượng phóng điện hay không.

Tại kết luận định giá tài sản số: 18/HĐ.ĐGĐGTSTTTHS.23 ngày 28/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thị xã P xác định tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 633.421.389 đồng (Sáu trăm ba mươi ba triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm tám mươi chín đồng).

Bao gồm: 01 (một) Tivi LED 4K Samsung UA75AU8100 mua vào ngày 28/11/2021; 01 (một) Nồi cơm điện tử T4(WT) mua tại Điện máy xanh; 01 (một) máy xay sinh tố Philips HR2115 mua tại Điện máy Xanh; 01 (một) một máy lạnh Panasonic CU/CS-PU9WKH-8M; 01 ghế massage KLC model: K8888; 01 (một) Mixer Yamaha CS9-16; 01 (một) cặp loa Column Jam Sound M07PA; 01 (một) cặp loa M1 Sound M22 KS12P; 01 (một) cặp loa Sub Wharfedale impact 218B; 01 (một) M2; 08 (tám) loa full 4 tấc RCF; 01 (một) bộ T5; 02 (hai) cây đàn ghi ta; 02 (hai) cây đàn Bass; 01 (một) bộ T6; 02 (hai) loa sup hơi RCF S8018 II; 01 (một) M3; 02 (hai) cục công xuất (M) Ampifier DK 1U X2 3000 (2 kênh x 3000w); 01 (một) cục công xuất (main) 1U X2 DK X4 1500 (4 kênh x 1600w); 01 (một) bộ X; 04 (bốn) loa M4; 60 (sáu mươi) cây sắt hộp (40x80x1,4)mm dài 6 mét; 10 (mười) cây sắt I loại 150mm, dài 6 mét; 10 (mười) bản mả (20x20)cm; 40 (bốn mươi) cây bu long neo chân cột phi 18; 15 (mười lăm) kg sắt phi 6; 04 (bốn) que hàn; 05 (năm) đá cắt sắt 35 cm; 03 (ba) đá mài 15 cm; 169 mét tôn Vinaone PU loại 4d5; Tôn láng khổ 60 cm, tôn nóc khổ 60 cm 30 mét; 04 (bốn) bọc đinh 7cm loại bắn tôn; 195,12 m2 loại gạch 60x60 VT979, gạch lát sân; 04 (bốn) máy lạnh hiệu Aqua loại 2.0 HP.

Tại Công văn số: 11/HĐ.ĐGTSTTTHS.24, ngày 06/5/2024 của Hội đồng ĐGTSTTTHS thị xã P - Bình Phước thông báo về việc không định giá được các

5

tài sản còn lại bị thiệt hại vì không có hoá đơn mua, bán để làm căn cứ thẩm định tài sản.

Tại Công văn số: 12/HĐ.ĐGTSTTTHS.24, ngày 06/5/2024 của Hội đồng ĐGTSTTTHS thị xã P - Bình Phước về việc không định giá căn nhà cấp 3 của bà Nhâm Thị T2 được vì hồ sơ yêu cầu định giá không có tài liệu thể hiện đặc điểm pháp lý, kinh tế - kỹ thuật của tài sản cần định giá để làm căn cứ thẩm định.

Về vật chứng vụ án: 01 (một) đoạn dây điện bị cháy lớp vỏ cách điện làm lộ lõi đồng; 01 (một) đoạn dây điện bị cháy lớp vỏ cách điện; 01 (một) đoạn dây điện bị cháy lớp vỏ cách điện có các hạt kim loại vón cục bám dính và 01 (một) que hàn; 01 (một) máy hàn điện, kẹp mát và nóng của máy hàn; Sản phẩm cháy; 01 (một) đoạn kim loại hình trụ có ren dùng để xoắn ốc, dài 01 (một) mét, đường kính 0,8 cm và 01 đoạn kim loại được hàn cố định trên khung kim loại dạng ống hình chữ nhật, kích thước (2,5 x 1,4) cm.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Hồng P (anh ruột của bị cáo L) thay mặt bị cáo L bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại bà Nhâm Thị T2 với số tiền: 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng). Ông P không yêu cầu bị cáo L phải có trách nhiệm trả lại cho ông P.

Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc T1 (mẹ của bị cáo V) đã thay mặt bị cáo V bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại Nhâm Thị T2 với số tiền: 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 không yêu cầu bị cáo V phải có trách nhiệm trả lại cho bà. Bà Nhâm Thị T2 đã nhận 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), còn 10.000.000đ kèm theo biên bản giao nhận vật chứng của vụ án bà Nhâm Thị T2 đồng ý nhận số tiền này và xem đây là tiên bồi thường khắc phục hậu quả của bị cáo V.

- Quá trình điều tra bị hại bà Nhâm Thị T2 yêu cầu các bị cáo và những người liên quan (là ông H1) phải có nghĩa vụ bồi thường theo quy định nhưng không đưa ra yêu cầu cụ thể là bao nhiêu, không đồng ý với thiệt hại thực tế theo Kết luận định giá tài sản số: 18/HĐ.ĐGĐGTSTTTHS.23 ngày 28/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thị xã P là: 633.421.389 đồng mà yêu cầu Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung để xác định giá giá trị thiệt hại căn nhà là bao nhiêu khi đó bà T2 mới có yêu cầu cụ thể về trách nhiệm bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKS ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (cũ) truy tố bị cáo Lê Hải L và Lê Quang V về tội “Vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 313 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số: 10/2024/HSST-QĐ, ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long yêu cầu làm rõ các nội dung sau:

6

  • - Làm rõ công trình của bà Nhâm Thị T2 có thực hiện lắp đặt, bố trí hệ thống phòng cháy, chữa cháy trước thời điểm cháy 28/11/2022 chưa? Chất lượng của hệ thống phòng cháy, chữa cháy được lắp đặt có đảm bảo tiêu chuẩn để đưa vào sử dụng không. Làm rõ trách nhiệm của cá nhân/cơ quan có liên quan đến việc lắp đặt, bố trí hệ thống phòng cháy, chữa cháy dẫn đến thiệt hại của bà Nhâm Thị Tuyết .
  • - Làm rõ yêu cầu dân sự của bà Nhâm Thị Tuyết .

Tại Công văn số: 10/CV-VKS ngày 01/10/2024 của VKSND thị xã Phước Long trả lời Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long cụ thể những nội dung sau:

  • - Quá trình điều tra xác định công trình của bà Nhâm Thị T2 đang trong quá trình thi công và chỉ lắp đặt, bố trí hệ thống phòng cháy theo quy định chứ chưa có hệ thống chữa cháy. Việc xác minh liên quan đến ông Trần Nam H1 vẫn đang tiến hành khi nào có kết quả sẽ bổ sung vào hồ sơ sau.
  • - Quá trình điều tra bà T2 cung cấp được các hóa đơn chứng từ xác minh nguồn gốc, giá trị tài sản để có cơ sở định giá nhưng chỉ xuất trình được một số hóa đơn chứng từ nên chỉ định giá được số tiền 633.421.389 đồng. Phần thiệt hại còn lại do hai bên tự thỏa thuận đền bù. Bà T2 yêu cầu bị cáo L bồi thường 8.000.000.000 đồng, hiện tại bị cáo L đã bồi thường được số tiền 400.000.000 đồng

Tại Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số: 02/2025/HSST-QĐ, ngày 06/3/2025 của TAND thị xã Phước Long yêu cầu làm rõ các nội dung sau:

  • - Bà Nhâm Thị T2 cho rằng nguyên nhân chính gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là do hệ thống phòng cháy chữa cháy của ông Trần Nam H1 không đảm bảo. Do đó cần làm rõ chất lượng của hệ thống phòng cháy có được lắp đặt đúng quy định hay không? Làm rõ hành vi của ông Trần Nam H1 có liên quan đến việc lắp đặt hệ thống phòng cháy, chữa cháy tại công trình bà Nhâm Thị T2 hay không? Làm rõ hành vi của ông C có liên quan đến việc lắp đặt hệ thống phòng cháy, chữa cháy không?
  • - Xác định thiệt hại của bà Nhâm Thị Tuyết ? làm rõ yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà T2? Đề nghị cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu bồi thường?
  • - Trong quá trình điều tra bổ sung nếu có vấn đề mâu thuẫn giữa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng liên quan đến nội dung vụ án thì tiến hành đối chất theo quy định

Tại Công văn số: 66/CV-VKS ngày 28/3/2025 của VKSND thị xã Phước Long trả lời Q1 đinh trả hồ sơ để điều tra bổ sung số: 02/2025/HSST-QĐ, ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long cụ thể những nội dung sau:

  • - Quá trình điều tra xác định công trình của bà Nhâm Thị T2 đang trong quá trình thi công và chỉ lắp đặt bố trí hệ thống phòng cháy theo quy định chứ

7

chưa có hệ thống chữa cháy. Trước đây Công an thị xã P tiến hành xác minh theo đơn của bà Nhâm Thị T2 về việc bà T2 nhờ ông Trần Nam H1 cán bộ đội quản lý hành chính gọi hộ đơn vị thi công lắp đặt hệ thống phòng cháy của bà T2 và có yêu cầu bà T2 liên hệ Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B để được thông báo kết quả giải quyết.

  • - Quá trình điều tra bà T2 cung cấp được các hóa đơn chứng từ xác minh nguồn gốc, giá trị tài sản để có cơ sở định giá nhưng chỉ xuất trình được một số hóa đơn chứng từ nên chỉ định giá được số tiền 633.421.389 đồng. Phần thiệt hại còn lại do hai bên tự thỏa thuận đền bù. Bà T2 yêu cầu bị cáo L bồi thường 8.000.000.000 đồng, hiện tại bị cáo L đã bồi thường được số tiền 400.000.000 đồng. Việc thỏa thuận dân sự trong vụ án hình sự là do tự nguyện giữa các bên nên cơ quan CSĐT và VKS chỉ ghi nhận. Trong quá trình xét xử nội dung này sẽ được làm rõ.
  • - Quá trình điều tra, truy tố xét thấy giữa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có mâu thuẫn nên không tiến hành đối chất.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - tỉnh Đồng Nai đã tuyên xử:

Tuyên bố các bị cáo Lê Hải L và Lê Quang V phạm tội “Vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy”.

Xử phạt bị cáo Lê Hải L 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam trước đó (từ ngày 16/01/2024 đến ngày 07/6/2024)

Xử phạt bị cáo Lê Quang V 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam trước đó (từ ngày 16/01/2024 đến ngày 17/6/2024).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt của các bị cáo khác, vật chứng vụ án, án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/8/2025, bị cáo Lê Hải L kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tại không giam giữ. Không chấp nhận kiến nghị của Hội đồng xét xử về việc hủy bản án sơ thẩm và không chấp nhận kiến nghị về việc giám định lại thiệt hại. Về trách nhiệm dân sự đề nghị Toà án giải quyết luôn trong vụ án hình sự và không chấp nhận việc tách ra bồi thường thành vụ án khác, đồng thời bị cáo L có nguyện vọng nộp tiền khắc phục thêm 233.421.389 đồng cho đủ số tiền 633.421.389 đồng thiệt hại theo kết luận giám định về thiệt hại.

Ngày 25/8/2025, bị cáo Lê Quang V kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 25/8/2025, bị hại Nhâm Thị T2 kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án

8

nhân dân khu vực 11 - tỉnh Đồng Nai, trả hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ để điều tra lại từ đầu vì có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với hành vi, trách nhiệm của ông Trần Nam H1, ông Thái Văn C và xác định lại thiệt hại là căn nhà của bà Nhâm Thị Tuyết .

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm nhận định và xin giảm nhẹ mức hình phạt tù.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hải L, Lê Quang V, chấp nhận một phần kháng cáo của Nhâm Thị Tuyết hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai để điều tra, truy tố, xét xử lại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Hải L, Lê Quang V và kháng cáo của bị hại Nhâm Thị T2 được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Do bất cẩn, cẩu thả và không tuân thủ quy định về phòng cháy nên vào ngày 28/11/2022 tại Phòng trà của bà Nhâm Thị T2 thuộc khu phố D, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Lê Hải L mặc dù biết rõ V không có chứng chỉ hàn kim loại, chưa được huấn luyện cấp chứng chỉ về an toàn cháy nổ, không đủ điều kiện để thực hiện công viện hàn điện những vẫn giao cho V thực hiện công việc hàn điện. Còn Lê Quang V không có phương án và áp dụng bất kỳ biện pháp nào để phòng cháy đối với khu vực và vị trí hàn điện, chưa có chứng chỉ về hàn cắt kim loại nhưng vẫn tiến hành công việc theo sự phân công của L, khi hàn không trang bị tấm chắn tia kim loại nóng chảy bắn ra, hậu quả làm tia kim loại nóng chảy bắn ra làm cháy phoam, mút cách âm, la phông phòng trà dẫn đến cháy phòng trà, cháy căn nhà cấp 3 bên cạnh và gây thiệt hại với tổng tài sản trị giá: 633.421.389 đồng. Giá trị thiệt hại trên là do trong quá trình điều tra bà T2 cung cấp được các hóa đơn chứng từ xác minh nguồn gốc, giá trị tài sản để có cơ sở định giá nhưng chỉ xuất trình được một số hóa đơn chứng từ nên chỉ định giá được số tiền 633.421.389 đồng. Đối với giá trị thiệt hại ngôi nhà cấp 3 của bà Nhâm Thị T2 vì lý do không có tài liệu thể hiện đặc điểm pháp lý, kinh tế - kỹ thuật của tài sản cần định giá nên không thể định giá.

9

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại điểm a, khoản 2 và khoản 3 Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23/12/2019 của Chính phủ quy định quyền của Hội đồng định giá:

1. Hội đồng định giá có quyền:

  • Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu cần thiết cho việc định giá;
  • -
  • Thuê doanh nghiệp thẩm định giá để thực hiện thẩm định giá tài sản; thuê tổ chức, cá nhân có kinh nghiệm tư vấn về giám định tình trạng kinh tế - kỹ thuật và các nội dung khác phục vụ việc định giá tài sản. Việc thuê doanh nghiệp thẩm định giá và các tổ chức, cá nhân có kinh nghiệm tư vấn được tiến hành trong các trường hợp cần thiết do Hội đồng định giá tài sản quyết định.

Trường hợp thực hiện định giá tài sản phục vụ các vụ án cần thực hiện gấp theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các gói thầu thẩm định giá tài sản, gói thầu thuê tổ chức, cá nhân có kinh nghiệm tư vấn về giám định tình trạng kinh tế - kỹ thuật và các nội dung khác phục vụ việc định giá tài sản được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt theo quy định tại Luật Đấu thầu và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

Tại điểm a, c khoản 1 Điều 15 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ:

Điều 15. Căn cứ định giá tài sản

1. Việc định giá tài sản không phải là hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ sau:

  • Giá thị trường của tài sản;
  • Giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định;
  • Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp; ......”.

Như vậy, đối với giá trị thiệt hại ngôi nhà cấp 3 cơ quan định giá cho rằng không có tài liệu thể hiện đặc điểm pháp lý, kinh tế - kỹ thuật của tài sản cần định giá nên không thể định giá là chưa đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại, trong khi thiệt hại thực tế ngôi nhà cấp 3 là có thật.

Đồng thời, việc định giá để xác định thiệt hại không chỉ liên quan đến việc xác định trách nhiệm bồi thường của các bị cáo cho bị hại mà còn liên quan đến việc xác định khung khoản các bị cáo bị truy tố, cụ thể:

“Điều 313. Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

1. Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

.......

10

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 08 năm:

.......

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

.......

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên ....”

Như vậy, nếu các bị cáo gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng, các bị cáo sẽ bị truy tố ở khoản 2 Điều 313 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 08 năm. Còn nếu gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên các bị cáo sẽ bị truy tố ở khoản 3 Điều 313 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 12 năm .

Hơn nữa, theo quy định tại khoản 4 Điều 85, Điều 88 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Vấn đề định giá để xác định giá trị thiệt hại là vấn đề cần phải chứng minh và thuộc về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.

Ngoài ra, ngày 05/5/2023, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của UBND tỉnh B (nay là UBND tỉnh Đ) (BL 92-93) đã có văn bản số 1265 về việc phúc đáp yêu cầu định giá số 159/ĐTTH ngày 25/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P trong đó có nêu rõ nội dung như sau:

“Qua nghiên cứu tài liệu do Cơ quan CSĐT - Công an thị xã P thì Hội đồng định giá TSTT thị xã P chưa tổ chức, thực hiện công tác xác định giá trị thiệt hại (khảo sát, thu thập thông tin về tài sản...) vì tư vấn có chức năng thẩm định giá (bao gồm thuê tổ chức, cá nhân có kinh nghiệm tư vấn về giám định tình trạng kinh tế - kỹ thuật để phục vụ việc định giá) để làm cơ sở xác định giá trị tài sản theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 15 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ.

Hội đồng định giá TSTT thị xã P căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ để từ chối định giá tài sản theo yêu cầu của Cơ quan CSĐT - Công an thị xã P với lý do: không thể xác định được mức độ thiệt hại của căn nhà bị cháy do việc xác định mức độ thiệt hại của căn nhà đòi hỏi phải có máy móc, thiết bị chuyên dùng các tài sản bên trong căn nhà đã bị cháy hết nên không đủ thông tin để định giá là chưa phù hợp và không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự....đề nghị Cơ quan CSĐT – Công an thị xã P có văn bản đề nghị Hội đồng định giá TSTTTHS thị xã P khẩn trương thực hiện định giá....”

11

Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần trả hồ sơ điều tra bổ sung. Theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung và Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử thì trường hợp sau khi Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung mà Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi trong trường hợp này.

Với những căn cứ và lập luận nêu trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại theo quy định của pháp luật.

[3] Do bản án sơ thẩm bị hủy để điều tra lại theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Lê Hải L và Lê Quang V. Yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo sẽ do Toà án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ án.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Quan điểm của bị hại về việc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với hành vi, trách nhiệm của ông Trần Nam H1, ông Thái Văn C sẽ được Toà án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ án.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên các bị cáo, bị hại không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nhâm Thị T2;

    Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai;

    Chuyển hồ sơ vụ án về cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai để điều tra lại theo quy định.

  2. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lê Hải L và Lê Quang V và bị hại Nhâm Thị T2 không phải chịu.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - PV 06 Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND, VKSND KV11 - Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai (P. THADS KV11);
  • - CQĐT - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, THS, VT (15b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2026/HS-PT ngày 30/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy

  • Số bản án: 57/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hải L + Đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger