|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 12 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Khắc Thái.
- Ông Hà Quang Văn.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cường - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 92/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Quách Thị T, sinh năm 1988.
Căn cước công dân số: 037188002645 do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/6/2021.
Nơi cư trú: Thôn E, xã G, tỉnh Ninh Bình.
Chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã G, tỉnh Ninh Bình.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1983.
Căn cước công dân số: 037083020955 do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/6/2021.
Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn E, xã G, tỉnh Ninh Bình.
(Tại phiên tòa chị T có mặt; anh P vắng mặt nhưng đã đề nghị xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/10/2025, Bản tự khai ngày 16/10/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Quách Thị T trình bày:
Về diễn biến quan hệ hôn nhân và gia đình: Chị và anh Nguyễn Văn P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình) ngày 09/01/2007 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống cùng bố mẹ anh P tại thôn E, xã G, tỉnh Ninh Bình. Từ khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, đánh chửi lẫn nhau. Nguyên nhân chính dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng anh chị là do anh P có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng không còn tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Mặt khác, anh P còn thường xuyên uống rượu rồi về nhà đánh đập, chửi bới chị. Đến năm 2022, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn H, xã G, tỉnh Ninh Bình sinh sống. Từ đó anh chị sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự sâu sắc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
Về con chung: Chị Quách Thị T xác định chị và anh Nguyễn Văn P có 03 con chung là các cháu Nguyễn Ngọc O, sinh ngày 27/11/2007; Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/7/2013 và Nguyễn Bình A, sinh ngày 03/10/2015. Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, chị T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 cháu Ngọc O, Gia B, B cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ ngày 05/12/2025 và tại phiên tòa chị Quách Thị T xác định hiện cháu Ngọc O đã đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập được nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với 02 cháu Gia B, B hiện đang ở với anh P. Nếu ly hôn, cháu Gia B có nguyện vọng ở với bố nên chị nhất trí để anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Gia B còn cháu Bình A có nguyện vọng ở với mẹ nên chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bình A cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quách Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn P phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Quách Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/11/2025 anh Nguyễn Văn P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn P xác định thời điểm đăng ký kết hôn, địa điểm chung sống của vợ chồng cũng như diễn biến quan hệ hôn nhân gia đình anh đúng như chị T đã trình bầy ở trên. Tuy nhiên, anh P xác định nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng anh là do chị T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Đến năm 2022, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị T đã chuyển đi nơi khác ở. Từ đó, anh chị đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh, anh P cũng nhất trí vì vợ chồng sống ly thân đã lâu nên tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nữa.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn P xác định anh và chị Quách Thị T có 03 con chung là các cháu Nguyễn Ngọc O, sinh ngày 27/11/2007; Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/7/2013 và Nguyễn Bình A, sinh ngày 03/10/2015. Hiện cháu Ngọc O đang học tại trường Cao đẳng D còn 02 cháu Gia B, B đang ở cùng anh P. Nếu ly hôn, cháu O là con gái nên để cháu ở cùng chị T còn anh P sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu Gia B, B cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn P không yêu cầu chị Quách Thị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh P không có yêu cầu phản tố hay đề nghị gì khác. Anh P đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh tại tất cả các phiên tòa.
Ý kiến của cháu Nguyễn Ngọc O: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Đến khi cháu đủ 18 tuổi thì Tòa án không phải giao cháu cho bố hoặc mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng vì cháu đã tự lập và tự đi học tại Trường Cao đẳng D.
Ý kiến của cháu Nguyễn Gia B: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Ý kiến của cháu Nguyễn Bình A: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình đã tiến hành giải quyết vụ án theo quy định. Do bị đơn anh Nguyễn Văn P không đến tham gia phiên hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 5, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị T. Xử ly hôn giữa chị Quách Thị T và anh Nguyễn Văn P.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 03/10/2015 cho chị Quách Thị T; Giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/7/2013 cho anh Nguyễn Văn P trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu B, Gia B đủ 18 tuổi. Hiện 02 cháu B, Gia B đều đang ở với anh P. Chị Quách Thị T và anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
- Về án phí ly hôn: Chị Quách Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã G, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
[1.3]. Về sự vắng mặt của bị đơn anh Nguyễn Văn P: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nguyễn Văn P theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh P của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình là hợp pháp. Tại phiên tòa, anh P vắng mặt nhưng tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 04/11/2025 anh P đề nghị Tòa án xử vắng mặt anh tại tất cả các phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P.
[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Quách Thị T và anh Nguyễn Văn P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình) ngày 09/01/2007. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P là hợp pháp. Quá trình chung sống, cuộc sống vợ chồng chị T, anh P có thời gian dài chung sống hạnh phúc sau đó mới phát sinh mâu thuẫn do chị T, anh P không còn tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Đến năm 2022, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân không ai quan tâm tới ai nữa. Quá trình giải quyết vụ án, anh P cũng nhất trí ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nữa. Mặt khác, Tòa án thông báo hòa giải anh P cũng không tới tham gia phiên hòa giải chứng tỏ anh P không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh P chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quách Thị T, cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Văn P là có căn cứ, phù hợp khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung: Chị Quách Thị T và anh Nguyễn Văn P có 03 con chung là các cháu Nguyễn Ngọc O, sinh ngày 27/11/2007; Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/7/2013 và Nguyễn Bình A, sinh ngày 03/10/2015. Tính đến thời điểm xét xử cháu Ngọc O đã đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập được nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với 02 cháu Gia B, B hiện đang ở cùng anh P. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bình A; anh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Gia B cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi còn anh P có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 cháu Gia B, B cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Ninh Bình ngày 25/11/2025, quá trình sinh sống tại địa phương chị T, anh P đều có trách nhiệm với con, không ai vi phạm nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Anh P làm thợ xây, mức thu nhập bình quân là 300.000đ/ngày. Chị T hiện làm công nhân tại Công ty TNHH Q, có mức thu nhập ổn định. Cả anh P, chị T đều có đủ điều kiện để nuôi con. Tuy nhiên, tại bản tự khai cũng như biên bản lấy lời khai 02 cháu Gia B, B thì cháu Gia B có nguyện vọng ở với bố còn cháu Bình A có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, cần giao cháu Gia B cho anh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Bình A cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đối với cháu Nguyễn Ngọc O, tính đến thời điểm xét xử cháu đã đủ 18 tuổi trưởng thành tự lập được, vì vậy không đặt ra việc giải quyết trong vụ án.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Quách Thị T, anh Nguyễn Văn P không ai có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không buộc chị T, anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Quách Thị T, anh Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Quách Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; các Điều 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quách Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn P. Quan hệ hôn nhân giữa chị Quách Thị T và anh Nguyễn Văn P chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Giao cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 03/10/2015 hiện đang ở với anh Nguyễn Văn P cho chị Quách Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Bình A đủ 18 tuổi.
Giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/7/2013 hiện đang ở với anh Nguyễn Văn P cho anh Nguyễn Văn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Gia B đủ 18 tuổi.
Chị Quách Thị T, anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Quách Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001671 ngày 14/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Ninh Bình.
- Quyền kháng cáo: Chị Quách Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN HNGĐ SỐ 56B GIỮA CHỊ QUÁCH THỊ T VÀ ANH NGUYỄN VĂN P
