Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – NINH BÌNH

Bản án số: 56/2025/HS-ST
Ngày 29 - 12 - 2025.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đệ; Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tuấn Hải - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/HSST – QĐ, ngày 24 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn H, sinh năm 1994; nơi sinh, nơi cư trú: Thôn B, xã H, tỉnh Ninh Bình (xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định cũ); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Vũ Thị L; có vợ là Đỗ Thị T, sinh năm 1995 và 02 con, con lớn sinh năm 2022, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17/02/2023, bị Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (cũ) ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng (chấp hành xong ngày 31/7/2024); nhân thân: Ngày 06/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (cũ) xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Gây rối trật tự công cộng"; ngày 12/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (cũ) xử phạt 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" (ngày 20/6/2020 chấp hành xong hình phạt). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N; “có mặt”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn A, xã H, tỉnh Ninh Bình, “có mặt”.

- Người làm chứng:

  1. Anh Đỗ Văn Q, “vắng mặt”.
  2. Bà Lê Thị H1, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn H đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo quyết định số 38/QĐ-UBND ngày 02/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình), thời hạn quản lý từ ngày 02/8/2024 đến ngày 02/8/2026. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 31/7/2025, tổ công tác Công an xã H, tỉnh Ninh Bình làm nhiệm vụ tại khu vực xóm N, xã H, tỉnh Ninh Bình phát hiện Phạm Văn H đang ngồi một mình ở vệ đường trong tình trạng không tỉnh táo, có biểu hiện nghiện ma túy. Tổ công tác đã đưa H về trụ sở Công an xã làm việc, đồng thời phối hợp với Bệnh viện Đ tiến hành kiểm tra ma túy trong nước tiểu của H, kết quả: Xét nghiệm Opiate (định tính) của H là dương tính. Công an xã H đã tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của H niêm phong (ký hiệu M1). Tại Cơ quan Công an, H khai nhận: Khoảng đầu tháng 7/2025, tại quán nước gần Trung tâm y tế H3, H gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là Q có đặc điểm cao khoảng 1m75, có hình xăm ở cánh tay trái, không rõ tuổi, địa chỉ, qua nói chuyện biết Q có bán ma túy nên H xin số điện thoại, Q đồng ý và cho số 0378.396.358 và hẹn khi nào cần mua ma túy thì đến khu vực cây Đ xã H. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 31/7/2025, H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, lắp sim số 0972.498.747 gọi đến số thuê bao 0378.396.358 của Q hỏi mua Heroine, H thấy có người bắt máy nhưng không nói gì. Sau đó, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha ACRUZO biển số 18H1- 40.442 từ nhà ở thôn A, xã H, tỉnh Ninh Bình đến cửa hàng thuốc thuộc Phòng khám Đ1 tại thôn C Y, xã H, tỉnh Ninh Bình mua 01 bộ bơm kim tiêm và 01 lọ nước cất bằng thủy tinh rồi điều khiển xe đi đến khu vực C thuộc xóm N, xã H gặp và mua của Q 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, sau đó điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 11 giờ cùng ngày, H đi đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm N, xã H, tỉnh Ninh Bình. Tại đây, H cho hết số H2 vừa mua cùng nước cất vào bơm kim tiêm, lắc đều để hòa tan Heroine với nước rồi sử dụng bằng hình thức chích trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, H vứt vỏ gói ma túy, ống nước cất và bơm kim tiêm xuống bờ cỏ gần đó rồi đi về nhà. Quá trình điều tra, Phạm Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu thông tin số thuê bao 0378.396.358 đăng ký mang tên Đỗ Văn Q, sinh năm 1984, trú tại xóm N, xã H, tỉnh Ninh Bình. Quá trình điều tra, Đỗ Văn Q khai không quen biết, không có việc giao dịch bán ma túy cho Phạm Văn H. Tiến hành kiểm tra trên hai cánh tay của Đỗ Văn Q không phát hiện có hình xăm hay dấu vết tẩy xóa hình xăm. Cơ quan điều tra tiến hành nhận dạng, đối chất. Kết quả: Phạm Văn H và Đỗ Văn Q đều khẳng định không quen biết nhau, Đỗ Văn Q không phải người bán ma túy cho H ngày 31/7/2025.

Tại bản kết luận giám định số 320/KL-KTHS ngày 11/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy các chất gồm Morphine, C1 và 6-MAM trong 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định (Morphine, Codeine và 6-MAM là các sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong nước tiểu).

Cáo trạng số 15/CT-VK-KV11, ngày 27/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Văn H thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 02 (năm) 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2025.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha ACRUZO, biển số 18H1- 40442 là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị L cho bà L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, bên trong lắp sim số thuê bao 0972.498.747 là tài sản hợp pháp của bị cáo cho bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Phạm Văn H là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú. Khoảng 11 giờ ngày 31/7/2025, tại khu vực nghĩa trang thuộc xóm N, xã H, tỉnh Ninh Bình, H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (Heroine) bằng hình thức chích trực tiếp vào cơ thể, đến ngày 03/8/2025 thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội mà bị cáo Phạm Văn H đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự an xã hội. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy, bản thân bị cáo đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và cũng là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, từ bỏ ma túy mà vẫn sử dụng. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

[6] Đối với Đỗ Văn Q, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã phối hợp cùng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình tiến hành biện pháp đối chất giữa bị cáo H và Q. Kết quả, Q không thừa nhận có bán ma túy cho H. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cũng không có căn cứ xác định Q bán ma túy cho H nên không đủ căn cứ xử lý đối với Đỗ Văn Q.

[7] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo H, bị cáo khai không biết tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý.

[8] Đối với cửa hàng thuốc thuộc Phòng khám Đ1 bán kim tiêm và nước cất cho H vào ngày 31/7/2025, do không biết H mua để sử dụng ma túy nên không có căn cứ xử lý.

[9] Về xử lý vật chứng thu giữ:

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha ACRUZO, biển số 18H1- 40442 là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị Lụa L1 mẹ đẻ của bị cáo. Bà L không biết H dùng xe để đi mua ma túy về sử dụng nên cần trả lại cho bà L.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, bên trong lắp sim số thuê bao 0972.498.747 của Phạm Văn H. Quá trình điều tra H khai có sử dụng điện thoại và sim số trên để liên lạc mua ma túy của Đỗ Văn Q, tuy nhiên quá trình điều tra Q không thừa nhận nội dung này, cũng không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh H sử dụng điện thoại và sim số vào việc phạm tội, do đó không có căn cứ để tịch thu chiếc điện thoại và sim số này. Vì vậy cần trả lại cho bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo H bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 02 (hai) năm 06 (tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha ACRUZO, biển số 18H1- 40442 cho bà Vũ Thị L;

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, bên trong lắp sim số thuê bao 0972.498.747 cho bị cáo Phạm Văn H.

(Vật chứng nêu trên được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Ninh Bình ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Ninh Bình).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phạm Văn H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKS nhân dân khu vực 11;
  • - Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - PCS THAHS & HTTP CA tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã Hải Tiến;
  • - Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Nguyễn Thị Thanh Xuân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình về sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 56/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H phạm tội sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger