Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - THANH HOÁ

Bản án số: 56/2025/HS-ST

Ngày 26 tháng 12 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Văn Thông - Nghề nghiệp: Giáo viên
  2. Ông Nguyễn Văn Hải - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Lừ Thị Hải Vân - Thư ký TAND khu vực 9 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HS ngày 16/12/2025 đối với bị cáo:

Lê Đức P - Sinh ngày 30/6/2008
Số định danh cá nhân:
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Công H và bà Lê Thị T.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 14/7/2023, bị TAND thị xã Nghi Sơn (nay là TAND khu vực 9), tỉnh Thanh Hoá, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, thời gian 24 tháng theo Quyết định 15/QĐ-TA. Chấp hành xong quyết định ngày 20/7/2025.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22 tháng 10 năm 2025 cho đến nay tại phân trại tạm giam khu vực N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Bà Lê Thị T, sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường N, Thanh Hóa. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thùy L - Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Các bị hại:

  1. Anh Tô Văn N - Sinh năm 1986 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
    Địa chỉ: TDP Nam Châu, phường Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá
  2. Anh Lê Đình B - Sinh năm 2007 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
    Địa chỉ: TDP N, phường N, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đức P, sinh ngày 30/6/2008, trú tại tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa là đối tượng không có nghề nghiệp, vừa chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G.

Khoảng 09 giờ ngày 02/10/2025, Lê Đức P đi bộ một mình từ nhà ông nội thuộc tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa ra khu vực tổ dân phố L, phường N. Khi đi đến khu vực trước nhà anh Hà Văn T1, sinh năm 1984, ở tổ dân phố L, phường N thì nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ - đen, biển kiểm soát: 36B3 - 139.33 của anh Tô Văn N, sinh năm 1986, ở tổ dân phố N, phường N đang dựng ở bờ tường phía trước nhà. Quan sát thấy chiếc xe cắm chìa khoá, không có người trông coi nên P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. P đi bộ lại phía chiếc xe, dắt bộ chiếc xe khoảng 20 mét rồi lên xe vặn chìa khoá, nổ máy và rời khỏi hiện trường. Sau đó, P sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện đi lại và khi có điều kiện thích hợp sẽ bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTSTX, ngày 16/10/2025 Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của UBND phường N kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ - đen, biển kiểm soát: 36B3 - 139.33, số khung: DY003111, số máy: 52E1040406, xe mua mới và sử dụng từ tháng 07/2013, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường có giá trị là 3.560.000 đồng.

Ngoài ra, vào khoảng 16 giờ ngày 05/10/2025, P đi bộ đến khu vực tổ dân phố Đ, phường N thì nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển kiểm soát: 36P2 – 1912 của anh Lê Đình B, sinh năm 2007, ở tổ dân phố N, phường N đang dựng ở bên phải đường dân sinh, trên xe cắm chìa khoá nên P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. P đi lại chỗ chiếc xe, vặn chìa khoá, đạp cho xe nổ rồi vít ga chạy nhanh khỏi vị trí để xe và điều khiển xe đến khu vực phường H chơi. Tại đây, do quen biết nên P đến và rủ anh Lê Văn Anh H1, sinh năm 2010, ở tổ dân phố T, phường H, tỉnh Thanh Hóa đi chơi. Đến tối cùng ngày, P gửi chiếc xe vừa trộm cắp được tại nhà anh H1, anh H1 đồng ý. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, anh H1 đã giao nộp chiếc xe mô tô trên.

Bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTSTX, ngày 16/10/2025 Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của UBND phường N kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đen - bạc, biển kiểm soát: 36P2-1912, số khung: RLCS5C6308Y153063, số máy: 5C63153063, xe mua và sử dụng từ tháng 9/2008, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường có giá trị là 2.940.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc USB bên trong lưu trữ 01 đoạn Video được trích xuất từ Camera an ninh của gia đình bà Nguyễn Thị P1, ghi lại hình ảnh Lê Đức P lấy trộm tài sản ngày 02/10/2025 tại tổ dân phố L, phường N, tỉnh Thanh Hóa (do bà P1 giao nộp).

Bản Kết luận giám định số 4372/KL-KTHS, ngày 14/11/2025, Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp Video lưu trong mẫu vật gửi giám định; Trích xuất 03 hình ảnh trong 02 trang giấy khổ A4”.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Đức P đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình, lời khai của P phù hợp với các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Lê Văn Anh H1 là người đã đồng ý cho Lê Đức P gửi chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36P2 - 1912 tại nhà mình. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định, khi cho P gửi nhờ xe tại nhà mình anh H1 không biết chiếc xe trên do P trộm cắp mà có nên hành vi của anh H1 không cấu thành tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đối với hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B3 – 139.33 và xe mô tô biển kiểm soát 36P2 - 1912 của Lê Đức P không có giấy phép lái xe và không đội mũ bảo hiểm đã vi phạm quy định về Luật giao thông đường bộ, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ liên quan đến Công an phường N, tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSNS ngày 04/12/2025 của Viện trưởng kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Đức P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật hình sự; Điều 12, khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên đối với Lê Đức P. Xử phạt Lê Đức P từ 06 đến 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị cáo (mẹ bị cáo) xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt nhưng đã gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo chưa thành niên, nhận thức còn hạn chế.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết sai, hứa không tái phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên toà, các bị hại và người bào chữa cho bị cáo vắng mặt đều đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; người bào chữa cho bị cáo đã gửi cho Toà án bản luận cứ bào chữa cho bị cáo. Vì vậy việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận: Do muốn có phương tiện đi lại và cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong hai ngày 02/10/2025 và ngày 05/10/2025, P đã 02 lần trộm cắp tài sản là 02 chiếc xe mô tô với tổng giá trị tài sản là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 02/10/2025, tại tổ dân phố L, phường N, tỉnh Thanh Hóa, Lê Đức P lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ - đen, biển kiểm soát: 36B3 - 139.33 của anh Tô Văn N, sinh năm 1986, ở tổ dân phố N, phường N, tỉnh Thanh Hóa, trị giá 3.560.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 05/10/2025, tại tổ dân phố Đ, phường N, tỉnh Thanh Hóa, P lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển kiểm soát: 36P2 – 1912 của anh Lê Đình B, sinh năm 2007, ở tổ dân phố N, phường N, tỉnh Thanh Hóa, trị giá tài sản 2.940.000 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với kết quả tranh tụng tại phiên toà và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Quyết định truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đều thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân bị cáo từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G. Tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo P là người chưa thành niên nên cần áp dụng các quy định của Luật tư pháp người chưa thành niên và áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Dựa trên cơ sở phân tích về tâm lý của người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và về tinh thần, bị hạn chế về nhận thức cũng như kinh nghiệm, kỹ năng sống, chưa đủ nhận thức hết được nguy hiểm của hành vi phạm tội. Hình phạt dành cho người chưa thành niên chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Căn cứ vào tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy: Cần xử phạt tù bị cáo một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật hình sự; Điều 12, khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên đối với Lê Đức P.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đức P 07 (bảy) tháng tù. Thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Lê Đức P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo P có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người bào chữa cho bị cáo P, bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND KV9-Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hoá về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 56/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hoá
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do muốn có phương tiện đi lại và cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong hai ngày 02/10/2025 và ngày 05/10/2025, P đã 02 lần trộm cắp tài sản là 02 chiếc xe mô tô với tổng giá trị tài sản là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger