Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày 26-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bắc (Giáo viên nghỉ hưu);

Bà Hoàng Thị Việt Hà (Giáo viên nghỉ hưu).

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Duy Tùng - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Khắc Tú, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 tháng 12 năm 2025 và ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/HSST-QĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Ninh Văn K

sinh ngày 19/01/2008; Nơi thường trú: thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Chí; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh lớp 11 Trường THPT dân tộc nội trú tỉnh B; Con ông Ninh Văn D và bà Ninh Thị S; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”.

Đại diện hợp pháp bị cáo:

Ông Ninh Văn D, sinh năm 1985 “có mặt”.

Bà Ninh Thị S, sinh năm 1985 “có mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh.

Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Ngô Văn H, thuộc văn phòng L3, đoàn Luật sư tỉnh Bắc Ninh “có mặt".

Trợ giúp viên pháp lý: Ông Thân Văn L, Trung tâm T4 “vắng mặt”.

Đại diện Nhà trường: Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh B - Ông La Thế T - Phó hiệu trưởng “có mặt”.

Địa chỉ: Đường T, phường B, tỉnh Bắc Ninh.

Bị hại:

Ông Lý Văn L1 (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Tạ Thị M, sinh năm 1931 “vắng mặt”.
  2. Bà Tạ Thị T1, sinh năm 1962 “có mặt”.

    Cùng địa chỉ: Tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh.

  3. Bà Lý Thị L2, sinh năm 1982 “có mặt”.

    Địa chỉ: TDP M, phường C, tỉnh Bắc Ninh.

  4. Ông Lý Văn Q, sinh năm 1984 “có mặt”.

    Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh.

  5. Bà Lý Thị M1, sinh năm 1987 “có mặt”.

    Địa chỉ: Đ, xã P, tỉnh Hưng Yên.

  6. Bà Lý Thị M2, sinh năm 1988.

    Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, thành phố Hà Nội.

  7. Ông Lý Văn N, sinh năm 1991.

    Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện theo ủy quyền của những đại diện hợp pháp bị hại:

Ông Lý Văn N, sinh năm 1991 “có mặt”.

Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Luật sư Nguyễn Đức H1 - Công ty L4; Địa chỉ số A, ngõ G phố D, phường C, Hà Nội “có mặt”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Ninh Đức T2, sinh ngày 22/12/2007 “có mặt”.

Đại diện hợp pháp Ninh Đức T2:

Ông Ninh Văn N1, sinh năm 1983 “có mặt”.

Địa chỉ: Thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh.

Ông Ninh Văn D, sinh năm 1985 “có mặt”.

Bà Ninh Thị S, sinh năm 1985 “có mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Lý Văn L1, sinh năm 1963, trú tại tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở G cấp ngày 17/10/2000, có giá trị không thời hạn. Ninh Văn K, sinh ngày 19/01/2008, trú tại thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh hiện đang là học sinh lớp 11 trường THPT dân tộc nội trú tỉnh Bắc Ninh, không có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/5/2025, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, biển kiểm soát 98E1-720.29 một mình đến nhà bạn là Ninh Đức T2, sinh năm 2007, ở cùng thôn đón T2 đi chơi tại phường C, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi chơi xong, K điều khiển xe mô tô chở T2 ngồi sau theo trên đường T hướng Quốc lộ C đi xã K, tỉnh Bắc Ninh để về nhà. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô đi đến đoạn Km20+500m Tỉnh lộ 289 thuộc địa phận tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh. Cùng lúc này ông Lý Văn L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56 một mình đi ra từ nhà bà Tạ Thị M, sinh năm 1931, trú tại tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh ra đường tỉnh 289, sau đó điều khiển xe mô tô từ phía bên trái đường sang bên phải đường theo hướng đi của K nhưng không chú ý quan sát xe mô tô của K đang đi tới. Khi ông L1 vừa điều khiển xe mô tô sang phần đường bên phải theo chiều đi của K và tiếp tục điều khiển xe mô tô hướng Quốc lộ C đi xã K thì K điều khiển xe mô tô đi tới phía sau ông L1, do không làm chủ tốc độ nên K tiếp tục điều khiển xe mô tô vượt phải xe mô tô của ông L1 làm xe mô tô do K điều khiển và chạm với xe mô tô do ông L1 điều khiển; ông L1, K, T2 và hai phương tiện ngã đổ ra đường. Hậu quả khiến K bị thương, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện B; T2 bị thương nhẹ; còn ông L1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H3, do thương tích nặng nên đến ngày 03/5/2025 đã tử vong.

Sau khi xảy ra tai nạn, Phòng C2 trật tự Công an tỉnh B (nay là Phòng C2 trật tự Công an tỉnh B) đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả như sau: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại Km20+500m Tỉnh lộ 289 thuộc địa phận tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh. Mặt đường thẳng, được trải nhựa asphalt rộng 11m, được phân chia hai chiều đường xe chạy bằng vạch đơn, đứt nét, màu trắng ở giữa đường. Vết cày xước kích thước (9x0,01)m, ký hiệu (1); Xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56, ký hiệu (2); Vết cày xước kích thước (24,1x0,01)m, ký hiệu (3); Đám mảnh vỡ kích thước (2,2x2,1)m, ký hiệu (4); Xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29, ký hiệu (5). Lấy mép đường bên phải theo hướng Quốc lộ C đi xã K, tỉnh Bắc Ninh làm mép chuẩn. Lấy cột đèn cao áp chiếu sáng đượt đặt trên mép phải đường hướng Quốc lộ C đi xã K, tỉnh Bắc Ninh ký hiệu 31/TĐ3-L2 làm mốc chuẩn. Vết cày xước mặt đường kích thước (9x0,01)m, ký hiệu (1): điểm đầu vết cày xước hướng Quốc lộ C, điểm cuối vết cày xước hướng xã K, tỉnh Bắc Ninh. Điểm đầu vết cày xước (1) cách mốc chuẩn là 4,3m, cách mép chuẩn là 2,1m. Điểm cuối vết trùng với xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56, ký hiệu (2). Xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56, ký hiệu (2) đổ nghiêng sườn phải, nằm trên mặt đường. Đầu xe mô tô hướng xã K, tỉnh Bắc Ninh, đuôi xe mô tô hướng Quốc lộ C. T3 trục bánh xe phía trước cách mép chuẩn là 3,5m; tâm trục bánh xe phía sau cách mép chuẩn là 2,7m, cách mốc chuẩn là 8,6m. Vết cày xước mặt đường kích thước (24,1x0,01)m, ký hiệu (3): điểm đầu vết cày xước hướng Quốc lộ C, điểm cuối vết cày xước hướng xã K, tỉnh Bắc Ninh. Điểm đầu vết cày xước (3) cách điểm đầu vết cày xước (1) là 2m, cách mép chuẩn là 1,4m, cách mốc chuẩn là 3,4m. Điểm cuối vết cày xước (3) cách mép chuẩn là 1m, trùng với xe mô tô kiểm soát 98E1-720.29, ký hiệu (5). Đám mảnh vỡ nằm trên mặt đường kích thước (2,2x2,1)m, ký hiệu (4). T3 đám mảnh vỡ cách mép chuẩn là 2,6m, cách đầu vết cày xước (3) là 2,4m, cách tâm trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56, ký hiệu (2) là 3,6m. Xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29 nằm đổ nghiêng sườn phải nằm trên vỉa hè, ký hiệu (5). Đầu xe hướng xã K, tỉnh Bắc Giang (nay là xã K, tỉnh Bắc Ninh), đuôi xe hướng xã K, tỉnh Bắc Ninh. T3 trục bánh xe phía trước cách mép chuẩn là 1,3m, cách mốc chuẩn là 26,7m. T3 trục bánh xe phía sau cách mép chuẩn là 0,6m, cách tâm đám mảnh vỡ ký hiệu (4) là 12,2m. Trên dải bê tông bên phải đường cách mốc chuẩn 18,4m về phía Quốc lộ C có đặt cột biển báo số W.207b (cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên); cách mốc chuẩn 24,3m về phía Quốc lộ C có đặt cột biển báo số W244 (cảnh báo đoạn đường thường xuyên xảy ra tai nạn giao thông). Quá trình khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56, 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe số 067555 và 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29.

Ngày 25/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ. Kết quả dựng lại hiện trường phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường do Phòng Cảnh sát giao thông trật tự Công an tỉnh B lập ngày 02/5/2025.

Ngày 15/5/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành khám nghiệm phương tiện đối với 02 xe mô tô nêu trên, kết quả: Trên xe mô tô BKS 98E1-526.56 có các dấu vết, cụ thể như sau: Mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên phải có vùng dấu vết trượt xước, bám dính vật chất màu đỏ, chiều hướng từ sau về trước, kích thước (13x5)cm; Mặt ngoài và mặt phía dưới ốp nhựa phía sau để chân trước bên phải có vùng dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu đỏ chiều hướng từ sau về trước kích thước (40x15)cm; Mặt ngoài ốp kim loại hệ thống tản nhiệt bên phải của động cơ và mặt dưới giá kim loại gia cố để chân sau bên phải có vùng dấu vết trượt, bám dính vật chất màu trắng và đỏ, chiều hướng từ sau về trước, kích thước (18x9)cm; Mặt ngoài ốp kim loại ống xả bên phải có vùng dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu nâu đen, chiều hướng từ sau về trước kích thước (22x6)cm; Giá đỡ gương chiếu hậu bên phải xô lệch khỏi vị trí cố định, khuyết gác gương, phần đầu của giá đỡ gương có dấu vết trượt xước bám dính vật chất dạng bột màu trắng kích thước (1x1)cm; Mặt trước tay phanh bên phải có vùng dấu vết trượt xước, kích thước (2x1)cm; Đầu tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (1,5x1,5)cm; Đầu tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (1,5x1,5)cm; Đầu tay nắm bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (2x1)cm; Mặt ngoài cánh yếm bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (33x25)cm; Mặt ngoài để chân trước bên phải có vùng dấu vết trượt xước, nứt vỡ nhựa kích thước (31x5)cm; Mặt ngoài để chân sau bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (8x2)cm; Mặt ngoài ốp kim loại ống xả bên phải, có dấu vết trượt xước bám dính vật chất dạng bột, màu trắng, kích thước (40x10)cm; Mặt ngoài bên phải tay xách sau có dấu vết trượt xước, kích thước (7x1)cm. Trên xe mô tô BKS 98E1-720.29 có các dấu vết, cụ thể như sau: Mặt ngoài góc bên trái ốp nhựa đầu xe phía trước có vùng dấu vết trượt xước, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (8,5x2,5)cm; Mặt ngoài góc bên trái chắn bùn trước bánh trước có vùng dấu vết trượt xước, bám dính vật chất màu đen, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (34x9)cm; Bung bật, vỡ khuyết mặt nạ và cánh yếm bên trái; Để chân trước bên trái bị đẩy xô lệch khỏi vị trí cố định, chiều hướng từ trước về sau. Mặt ngoài và mặt dưới ốp cao su của để chân trước bên trái có vùng dấu vết trượt xước, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (9,5x4)cm; Mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên trái có vùng dấu vết nứt vỡ, khuyết nhựa, kích thước (7,5x4)cm; Mặt ngoài giá đỡ để chân sau bên trái có dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu nâu đen, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (1,3x2)cm; Mặt ngoài và mặt trước góc bên phải ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng và đèn tín hiệu phía trước bên phải có vùng dấu vết trượt xước, kích thước (23x11)cm; Đầu tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (1,5x1,5)cm; Đầu tay nắm bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (2x2)cm; Mặt ngoài đầu ốc cố định thanh giảm xóc trước bên phải và trục bánh trước có vùng dấu vết trượt xước, kích thước (5x1,5)cm, bám dính vật chất dạng bột màu trắng; Mặt ngoài và mặt dưới đầu cần chân phanh có dấu vết trượt xước, bám dính vật chất màu đen và vật chất dạng bột màu trắng, kích thước (3x1)cm; Để chân trước bên phải xô lệch khỏi vị trí cố định.

Ngày 03/5/2025, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám nghiệm tử thi đối với Lý Văn L1, kết quả chính như sau: Lỗ tai trái có máu đông và không đông; vùng chẩm phải có vết sây sát da, bề mặt dập rách, kích thước (05x03)cm, xung quanh có diện sưng nề, kích thước (11x9)cm; sờ nắn thấy gãy kín hai xương cẳng chân phải; nhiều tổn thương dập rách, sây sát da, sưng nề, bầm tím rải rác ở nhiều vùng cơ thể; thu mẫu máu của tử thi Lý Văn L1 để phục vụ việc giám định.

Ngày 03/5/2025, 13/6/2025, Cơ quan điều ra đã ra Quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết vụ tai nạn, nguyên nhân tử vong của ông Lý Văn L1. Kết quả như sau:

Tại Bản kết luận giám định số 1247/KL-KTHS ngày 27/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Dấu vết mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu đen, hướng từ trước ra sau tại mặt trên bên trái ốp nhựa phần đầu của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29, có hướng từ trước ra sau (ảnh số 6 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sắt cao su tại mặt dưới đầu tay nắm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56, có hướng từ sau ra trước (ảnh số 14 bản ảnh khám phương tiện). Dấu vết chùn cong, mài sát cao su, kim loại tại để chân trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29, có hướng từ trước ra sau (ảnh số 9 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy vỡ, mài sát nhựa, bám dính chất màu đen tại phía dưới ốp bệ để chân trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 6 bản ảnh khám phương tiện). Dấu vết trượt xước cao su, kim loại tại giá đỡ và để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29, có hướng từ trước ra sau (ảnh số 11 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát kim loại, bám dính chất màu đen tại mặt sau để chân sau bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56, có hướng từ sau ra trước (ảnh số 17 bản ảnh khám phương tiện). Dấu vết mài sát nhựa, cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng dạng bột đá tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29 gồm: mặt trước đầu tay lái, đầu tay phanh, chân phanh, để chân trước và sau, ống xả được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29 đổ nghiêng phải, rê trượt trên mặt đường, đồng thời tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 1 trên hiện trường. Dấu vết mài sát nhựa, cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng dạng bột đá tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56 gồm: đầu tay lái, đầu tay phanh, cánh yếm, để chân trước và sau, ống xả, tay xách sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường, đồng thời tạo nên vết cày xước ký hiệu số 3 trên hiện trường. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29 với xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều chuyển động bên phải của đường tỉnh 289 theo hướng Quốc lộ C đi xã K. Chiều hướng chuyển động: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29 chuyển động tiến theo đường Quốc lộ 31 đi xã K va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56 chuyển động cùng chiều ở phía trước bên trái. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 939A/KLGĐTT-KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Lý Văn L1 do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, gãy 2 xương cẳng chân phải, trên người có HBsAg (viêm gan B) dương tính. Cơ chế hình thành dấu vết trên cơ thể Lý Văn L1: Các tổn thương dập rách, sây sát da, sưng nề, bầm tím hình thành do vật tày có hình dạng, diện tiếp xúc và chiều hướng tác động khác nhau tạo nên. Trong đó chấn thương sọ não, gãy 2 xương cẳng chân phải là do vật tày, tác động với lực mạnh, trực tiếp tạo nên.

Ngày 07/5/2025, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định giám định nhóm máu, nồng độ cồn, chất ma tuý, viêm gan B trong mẫu máu tử thi Lý Văn L1. Tại Bản kết luận giám định số 20B.25/PY-XNSH ngày 09/5/2025 và số 934/PY-XNĐH ngày 15/5/2025 của V - Bộ Q1 kết luận: Mẫu máu của tử thi Lý Văn L1, sinh năm 1963, trú tại tổ dân phố S, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang gửi giám định: HBsAg (viêm gan B) dương tính. Không tìm thấy E trong mẫu máu của Lý Văn L1. Không tìm thấy các chất ma tuý như M3, 6MAM, Heroin, C, C1, A, M4, MDA, MDMA, MDEA, Ketamin, LSD, THC (cần sa) trong mẫu máu của Lý Văn L1.

Ngày 02/5/2025, Phòng C2 trật tự Công an tỉnh B tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Ninh Văn K, kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Ninh Văn K là 0,000mg/L. Cùng ngày, Bệnh viện B tiến hành xét nghiệm chất ma tuý có trong mẫu máu của bị cáo K, kết quả âm tính với các chất ma tuý.

Ngày 09/5/2025, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ 02 (hai) file Video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông từ hệ thống camera an ninh của gia đình anh Lương Gia A1, sinh năm 1998 và anh Lê Văn H2, sinh năm 1980, cùng trú tại TDP S, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 17/6/2025, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với 02 file video đã thu giữ. Tại Bản kết luận giám định số 1212/KL-KTHS ngày 24/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định sau: File Video có tên "TNGT Sậy 1.mp4", dung lượng: 2.97MB, thời lượng: 00 phút 18 giây; File Video có tên "TNGT Sậy 2.MP4", dung lượng: 1.22MB, thời lượng: 00 phút 11 giây. Tại thời điểm 20 giờ 46 phút 48 giây của file V1 có tên “TNGT Sậy 2.MP4", quan sát thấy khi xảy ra vụ tai nạn giao thông chiều hướng chuyển động của hai xe mô tô di chuyển từ phải sang trái; vị trí va chạm thuộc phần đường bên phải theo chiều hướng di chuyển của hai xe mô tô trên mặt đường có vạch kẻ đường nét đứt phân chia hai chiều. (Thời gian, chiều hướng thể hiện trên khung hình của các file video). Trích xuất được 10 (mười) hình ảnh có liên quan đến vụ việc có trong các file Video gửi giám định.

Ngày 30/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản bị thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông trên. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-KTHS ngày 02/6/2025 của Hội đồng định giá tái sản trong Tố tụng hình sự thị xã C, tỉnh Bắc Giang (cũ), kết luận: Các bộ phận của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29 bị hư hỏng vào thời điểm ngày 02/5/2025 trị giá là: 3.710.000 đồng. Các bộ phận của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56 bị hư hỏng vào thời điểm ngày 02/5/2025 trị giá là: 3.340.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 15/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu, trả lại 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 98E1-720.29, 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 067555, biển kiểm soát 98E1-720.29 và 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 98E1-526.56 cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Ninh Văn K đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường, hỗ trợ cho gia đình nạn nhân Lý Văn L1 số tiền 400.000.000 đồng. Gia đình nạn nhân L1 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ninh Văn K.

Nguyên nhân dẫn tới vụ tai nạn giao thông nêu trên do lỗi hỗn hợp, Ninh Văn K điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe theo quy định, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đi đến nơi có biển cảnh báo đoạn đường thường xuyên xảy tai nạn giao thông và giao nhau với đường không ưu tiên, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước cùng chiều, vượt xe về phía bên phải không đảm bảo an toàn với xe cùng chiều, dẫn tới va chạm với xe mô tô do ông Lý Văn L1 điều khiển. Hành vi nêu trên của Ninh Văn K đã vi phạm khoản 1 Điều 9; Khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 12; Khoản 2, 5 Điều 14 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Ông Lý Văn L1 điều khiển xe mô tô chuyển hướng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn. Hành vi nêu trên của ông Lý Văn L1 đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 119; Điều 124; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Ninh Văn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo.

Tại phiên toà Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh về tội danh truy tố bị cáo, hình phạt, điều luật ap dụng đối với bị cáo. Đề nghị cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; Đại diện hợp pháp bị hại tại phiên tòa nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh về nội dung truy tố bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xác định lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông là do một phần lỗi của bị hại là chưa có căn cứ vững chắc; Cần phải trả hồ sơ điều tra bổ sung để quy trách nhiệm, xử lý đối với người đưa xe cho bị cáo đi khi chưa có bằng lái xe, tránh để bỏ lọt tội phạm trong vụ án. Về trách nhiệm bồi thường dân sự hai bên đã thỏa thuận xong không đề nghị bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại vẫn giữ nguyên quan điểm xin miễn truy cứu nhiệm hình sự, hoạc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa anh Ninh Đức T2 do ông Ninh Văn N1 đại diện hợp pháp đều xác định diễn biến sự việc vụ tai nạn giao thông như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh mô tả; Do bản thân không bị thiệt hại gì nên không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Đại diện nhà trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Bắc Ninh – Ông La Thế T trình bày: Bị cáo Ninh Văn K là học sinh của Nhà trường, trong quá trình học tập K là học sinh ngoan, có đạo đức tốt, học tập khá, có nhiều thành tích trong học tập, không vi phạm gì trong thời gian học ở trường. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội tiếp tục đi học, trở thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, đương sự không có người nào có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 02/5/2025, Ninh Văn K, sinh ngày 19/01/2008, trú tại thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh là người không có giấy phép lái xe theo quy định, đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS 98E1-720.29, đi đến đoạn Km20+500m Tỉnh lộ 289 thuộc địa phận tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đi đến nơi có biển cảnh báo đoạn đường thường xuyên xảy tai nạn giao thông và giao nhau với đường không ưu tiên, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước cùng chiều, vượt xe về phía bên phải không đảm bảo an toàn với xe cùng chiều, dẫn tới va chạm với xe mô tô do ông Lý Văn L1 điều khiển. Hậu quả khiến ông L1 tử vong, K và T2 bị thương, các phương tiện bị hư hỏng. Hành vi nêu trên của Ninh Văn K đã vi phạm khoản 1 Điều 9; Khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 12; Khoản 2, 5 Điều 14 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Tại phiên tòa Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; Đại diện hợp pháp bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại việc xác định lỗi gây ra tai nạn có phải do một phần lỗi của bị hại hay không? Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định ông Lý Văn L1 điều khiển xe mô tô chuyển hướng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn. Hành vi nêu trên của ông Lý Văn L1 đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, như quan điểm trong bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo, gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, ông nội bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến và bản thân bị cáo được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen; Vụ tai nạn giao thông cũng một phần lỗi của bị hại nên bị cáo được được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội dưới 18 tuổi; Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung; đảm bảo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và cũng đảm bảo nguyên tắc xử lý đối người dưới 18 tuổi phạm tội theo khoản 1 Điều 119; Điều 124; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xét thấy mức hình phạt khởi điểm đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo, bị hại đã thỏa thuận được về việc bồi thường dân sự không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý trong quá trình điều tra nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về những vấn đề khác:

Tại phiên tòa Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; Đại diện hợp pháp bị hại đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung xem xét trách nhiệm với người đã giao xe cho bị cáo. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và ông Ninh Văn D đều giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra là bị cáo tự lấy xe máy của ông D đi, ông D không biết nên đối với ông Ninh Văn D (bố đẻ của K) là chủ sở hữu và là người thường xuyên sử dụng chiếc xe mô tô BKS 98E1-720.29. Tại thời điểm trước khi xảy ra sự việc, ông D để xe mô tô ở nhà, sau đó đi ra ngoài có việc, chìa khóa vẫn cắm sẵn trên ổ khóa của xe, ông D không giao xe cho K, K tự ý lấy xe mô tô dẫn tới gây tai nạn. Cơ quan điều tra đã dùng các biện pháp điều tra nhưng không có căn xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông D, vì vậy không xử lý ông D là có căn cứ.

Ngày 26/6/2025, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ninh Văn K. Ninh Văn K có đơn xin từ chối giám định thương tích và không có mặt tại Trung tâm Pháp y tỉnh T4 để giám định thương tích theo quy định.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Ninh Đức T2 chỉ bị xây xát ngoài da, không bị thương tích, không thăm khám, chữa trị tại các cơ sở y tế. Thế đã có đơn xin từ chối giám định thương tích không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa, các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119; Điều 124; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên:

Xử phạt bị cáo Ninh Văn K 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Ninh Văn K cho UBND xã K, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND KV5; Bắc Ninh;
  • - Cơ quan CSĐTCA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS Kv5; Bắc Ninh;
  • - UBND xã Kiên Lao;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TỈNH BẮC NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger