|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH Bản án số: 55/2025/HS - ST Ngày 23 tháng 12 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Đăng Đán
2. Ông Nguyễn Hữu Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Thiên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tôn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2025/TLST-HS ngày 17/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HS ngày 09/12/2025 đối với các bị cáo:
1. Phạm Đình V (Tên gọi khác: Phạm Đình T), sinh năm 1982 tại Bắc Ninh; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đình T1, sinh năm 1962 và con bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1962; có vợ là: Dư Thị H, sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 775/QĐ-XPHC ngày 28/4/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T xử phạt Phạm Đình V 7.500.000 đồng về hành vi “Dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc”. Ngày 29/4/2025, chấp hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt tại phiên tòa.
2. Phan Đình T2, sinh năm 1982 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn P, xã C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn T3; sinh năm 1956 và con bà Lưu Thị V1, sinh năm 1961; có vợ là: Nguyễn Thị D, sinh năm 1983 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án: Tại bản án số 123/2024/HS-ST ngày 17/10/2024, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xử phạt Phan Đình T2 25.000.000 đồng về tội "Đánh bạc" quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 23/12/2024, T2 đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Dương Văn H1, sinh năm 1980, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Tạ Huy Q, sinh năm 1971, địa chỉ: Tổ dân phố số D, phường Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Bùi Thị O, sinh năm 1975, địa chỉ: Tổ dân phố K, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 10/7/2025, Tạ Huy Q, Nguyễn Văn H2, Phạm Đình V và Bùi Thị O cùng đến trang trại nhà Dương Văn H1 ở tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh để chơi. Trong quá trình ngồi chơi uống nước thì Q, H2, V, O rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh "Liêng", tất cả đều đồng ý và cùng ngồi xuống hai chiếc chiếu nhựa được trải sẵn ở đường lối vào trang trại giáp với ao cá để đánh bạc. H2 là người lấy 01 bộ bài lơ khơ 52 quân ở gần chỗ mọi người ngồi để đánh bạc. Khoảng hơn 13 giờ thì Dương Đình H3 và Phan Đình T2 đi chơi về thấy mọi người tham gia đánh bạc thì H3 ngồi xem còn T2 vào trong nhà đến khoảng 15 giờ thì O có việc nên đi về trước thì T2 tham gia đánh bạc cùng mọi người.
Hình thức đánh bạc và tỷ lệ được thua như sau: Đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng”, sử dụng bộ bài lơ khơ 52 quân chia đều cho mỗi người đánh bạc 03 quân bài và quy ước với nhau về cách xác định kết quả thắng thua. Mỗi ván mỗi người chơi sẽ góp 10.000 đồng; nếu ai được "Liêng" đồng hoa thì mỗi người chơi còn lại sẽ phải trả cho người được bài "Liêng" 60.000 đồng; nếu ai được "Sáp" thì những người chơi còn lại sẽ phải trả cho người được "Sáp" số tiền 100.000 đồng; người tố thấp nhất là 10.000 đồng, người tố cao nhất là 100.000 đồng. Sau khi cầm bài lên người đánh bạc có thể lựa chọn đặt cược thêm tiền giữa chiếu bạc hoặc không đặt cược thêm tiền; số tiền đặt cược thêm là không giới hạn.
Các đối tượng chơi đánh bạc đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an phường T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: Thu giữ trên chiếu, trước mặt các đối tượng ngồi đánh bạc: 01 bộ bài lơ khơ 52 quân, mặt sau quân bài có hoa văn màu vàng xanh; số tiền 2.720.000 đồng; 02 chiếc chiếu nhựa có nhiều họa tiết màu vàng xanh; Tạ Huy Q giao nộp số tiền 70.000 đồng; Phan Đình T2 giao nộp số tiền 925.000 đồng.
Các bị cáo khai nhận số người tham gia đánh bạc, số tiền mang theo và số tiền sử dụng vào việc đánh bạc như sau: Có 05 người tham gia đánh bạc là: Q, H2, V, O, T2; H3 là chủ nhà không tham gia đánh bạc nhưng đồng ý cho những người khác đánh bạc tại trang trại nhà Hát. Phan Đình T2 mang theo số tiền 800.000 đồng, khi bị bắt quả tang T2 đang thắng số tiền 125.000 đồng và giao nộp tổng số tiền 925.000 đồng; Phạm Đình V mang theo số tiền 500.000 đồng và để tại chiếu để tham gia đánh bạc; Tạ Huy Q mang theo số tiền 1.185.000 đồng, khi bị bắt Q đang thua và giao nộp số tiền 70.000 đồng còn lại; Bùi Thị O mang theo số tiền 200.000 đồng, O thua hết số tiền này; Nguyễn Văn H2 mang theo số tiền 1.030.000 đồng và để tại chiếu để tham gia đánh bạc. Các bị cáo đều khai nhận sử dụng hết số tiền trên để đánh bạc.
Tổng số tiền những người tham gia đánh bạc sử dụng để đánh bạc là: 3.715.000 đồng.
Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSKV9 ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố Phạm Đình V và Phan Đình T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay các bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng, nội dung vụ việc xảy ra như bản cáo trạng nêu là chính xác. Các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc của mình dưới hình thức chơi “đánh liêng” vào chiều ngày 10/7/2025 tại trang trại nhà Dương Văn H1; thừa nhận số tiền các bị cáo mang theo, sử dụng để đánh bạc, bị thu giữ, tổng số tiền dùng để đánh bạc, cách thức đánh bạc như bản cáo trạng nêu là đúng. Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Dương Văn H1, Tạ Huy Q, Nguyễn Văn H2 và Bùi Thị O vắng mặt tại phiên tòa. Tại Cơ quan điều tra, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trên đều trình bày thống nhất với các nội dung đã nêu ở trên.
Đại diện khu vực 9 – Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Đình V (tên gọi khác Phạm Đình T), Phan Đình T2 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Đình V từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Đình V từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phan Đình T2 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo Phan Đình T2 từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Giao bị cáo Phạm Đình V cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Phan Đình T2 cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.715.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài lơ khơ 52 cây, mặt sau có hoa văn màu vàng xanh và 02 (hai) chiếc chiếu nhựa có họa tiết màu vàng xanh.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Sau khi nghe bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tham gia tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và đều có đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc đề ngày 10/7/2025, phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng thu được tại hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 16 giờ ngày 10/7/2025 tại trang trại nhà Dương Văn H1 ở tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh, Phan Đình T2, Phạm Đình V đã có hành vi đánh bạc trái phép cùng với Tạ Huy Q, Nguyễn Văn H2, Bùi Thị O với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 3.715.000 đồng. Mặc dù số tiền sử dụng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi đánh bạc trên Phan Đình T2 đã từng bị kết án về tội đánh bạc và chưa được xóa án tích; Phạm Đình V đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc” (thuộc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự) và chưa được xóa tiền sự. Do vậy, hành vi của các bị cáo Phan Đình T2, Phạm Đình V đã cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát khu vực 9 – Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Đây là một trong những tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như cướp tài sản, trộm cắp tài sản...dư luận nhân dân đòi hỏi phải có hình phạt nghiêm nhằm giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất và vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy:
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Các bị cáo nhất thời phạm tội, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện tội phạm do vậy không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Bị cáo V là người tham gia đánh bạc từ đầu đến khi bị phát hiện, bị cáo T2 tham gia đánh bạc khi O bỏ về đến khi bị phát hiện nhưng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của bị cáo T2 lại nhiều hơn bị cáo V nên xác định hai bị cáo có vai trò ngang nhau và đều tích cực thực hiện tội phạm.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
Bị cáo Phan Đình T2 có 01 tiền án nhưng tình tiết này đã là dấu hiệu định tội nên căn cứ khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo Phạm Đình V có 01 tiền sự nhưng tình tiết này cũng đã là tình tiết định tội đối với bị cáo. Do vậy, cả hai bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo T2 có bố đẻ là người có công với cách mạng (bệnh binh); bị cáo còn tự nguyện nộp một khoản tiền vào thi hành dân sự để thể hiện sự ăn năn nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, mặc dù bị cáo T2 đã từng bị kết án, bị cáo V đã từng bị xử phạt hành chính nhưng khi định tội đã sử dụng các tình tiết này và các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, đều có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, các bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Mặt khác, các bị cáo đều người làm ăn lương thiện, tội phạm mà các bị cáo thực hiện là do nhất thời, các bị cáo cũng đều đang nuôi bố mẹ đã cao tuổi và đều có từ 02 con nhỏ trở lên. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được giáo dục, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cũng như tạo điều kiện cho các bị cáo chăm sóc con nhỏ và bố mẹ đã cao tuổi.
Ngoài việc áp dụng hình phạt chính đối với các bị cáo, khi quyết định hình phạt cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt các bị cáo một khoản tiền để sung ngân sách nhà nước do các bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi.
[6] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Số tiền 3.715.000 đồng là số tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 bộ bài lơ khơ 52 cây và 02 chiếc chiếu nhựa là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với Dương Văn H1 là người đã cho các đối tượng tham gia đánh bạc tại trang trại thuộc quyền quản lý của mình và Tạ Huy Q, Nguyễn Văn H2, Bùi Thị O là những người có hành vi đánh bạc tại trang trại của Dương Văn H1. Do tổng số tiền sử dụng để đánh bạc chưa đủ truy cứu trách nhiệm hình sự và H1, Q, H2, O chưa có tiền án, tiền sự về tội "Đánh bạc", "Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc". Vì vậy, Trưởng công an phường T, tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Dương Văn H1, Tạ Huy Q, Nguyễn Văn H2 và Bùi Thị O là phù hợp.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Phạm Đình V (tên gọi khác: Phạm Đình T), Phan Đình T2 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Đình V 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Phạm Đình V 10 triệu đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phan Đình T2 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Phan Đình T2 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo Phan Đình T2 đã nộp số tiền 10.200.000 đồng (mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000493 ngày 22/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Giao bị cáo Phạm Đình V cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Phan Đình T2 cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.715.000 đồng (Ba triệu bẩy trăm mười lăm nghìn đồng) (theo giấy nộp tiền ngày 19/9/2025 của Ngân hàng TMCP C).
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài lơ khơ 52 cây, mặt sau có hoa văn màu vàng xanh và 02 (hai) chiếc chiếu nhựa có họa tiết màu vàng xanh (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/11/2025).
Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phạm Đình V, Phan Đình T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần có liên quan trong bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Yến (Đã ký) |
Bản án số 55/2025/HS - ST ngày 23/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 55/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đình V và đồng phạm phạm tội đánh bạc
