Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA

Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-12-2025

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hứa Thị Mây Sum
Ông Phạm Ngọc Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Dĩ Khang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 134/2025/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thái Thị L, sinh ngày: 12/6/1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn P, xã N, tỉnh Khánh Hòa

Bị đơn: Ông Trần Thanh T, sinh ngày: 12/9/1980 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn – Bà Thái Thị L trình bày: Bà với ông Trần Thanh T tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau từ năm 2019 nhưng không tổ chức lễ cưới, đến năm 2023 thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND xã P cũ, nay là xã N, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông T thường xuyên tham gia chơi đánh bạc, đã bị xử phạt hành chính nhiều lần, mỗi lần bà khuyên bảo thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do ông T làm cá độ bóng đá, bà nói ông T không chịu nghe, sau đó ông T bị khởi tố và đưa ra xét xử, từ đó đến nay bà không còn quan tâm, liên lạc với ông T. Nay bà xét thấy không còn tình cảm với ông T, vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, bà không thể tiếp tục chung sống với ông T được, vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông T.

- Về con chung: Bà với ông T có 01 con chung tên Trần Thái Gia T1, sinh ngày 06/12/2019. Hiện con đang sống với bà, bà yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/12/2025 (BL 23), bị đơn – Ông Trần Thanh T trình bày: Ông với bà Thái Thị L tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau từ năm 2016 và đến năm 2023 thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND xã P (cũ), nay là xã N, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình chung sống vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì, tuy nhiên ông thường xuyên tham gia chơi đánh bạc, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần và đến năm 2024, ông bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước (cũ) xử phạt 05 năm 06 tháng tù, hiện đã chấp hành án được 26 tháng. Đối với yêu cầu ly hôn của bà L, ông không đồng ý, vì giữa ông với bà L không có mâu thuẫn gì, ông yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

- Về con chung: Ông với bà L có 01 con chung tên Trần Thái Gia T1, sinh ngày 06/12/2019, hiện con đang ở cùng với bà L. Nếu Tòa án giải quyết cho ông và bà L ly hôn thì ông đồng ý giao con cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông với bà L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị L: Bà Thái Thị L được ly hôn ông Trần Thanh T; Giao 01 con chung chưa thành niên tên Trần Thái Gia T1, sinh năm 2019 cho bà Thái Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Thái Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Thanh T; ông Trần Thanh T có nơi cư trú tại thôn T, xã N, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa, quan hệ pháp luật được Tòa án xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

[2]. Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Thái Thị L và bị đơn ông Trần Thanh T vắng mặt tại phiên tòa và có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về hôn nhân: Bà Thái Thị L và ông Trần Thanh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là xã N, tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận kết hôn 30, ngày 03/4/2023. Vì vậy, xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Thái Thị L và ông Trần Thanh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

[3.2]. Về tình trạng hôn nhân: Bà Thái Thị L cho rằng vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông T thường xuyên chơi đánh bạc, bà đã nhiều lần khuyên bảo nhưng ông T không thay đổi nên làm mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Xét thấy, lời khai của bà L phù hợp với lời khai của ông T về việc ông T thường xuyên đánh bạc nhiều lần, đã bị xử phạt hành chính và năm 2024 bị xử phạt tù với thời hạn 05 năm 06 tháng tù. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa bà Thái Thị L và ông Trần Thanh T là có thật, nên bà Thái Thị L yêu cầu ly hôn ông Trần Thanh T là có căn cứ nên chấp nhận.

[3.3]. Về con chung: Bà Thái Thị L và ông Trần Thanh T có 01 con chung tên Trần Thái Gia T1, sinh ngày 06/12/2019 và hiện đang sống cùng với bà L. Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con, đồng thời ông Trần Thanh T đồng ý giao con cho bà L nuôi là phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

[3.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thái Thị L tự nguyện không yêu cầu ông Trần Thanh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thái Thị L và ông Trần Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị L.

[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bà Thái Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 5 Điều 177, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, Các Điều: 51, 56, 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị L được ly hôn ông Trần Thanh T.
  2. Về con chung: Giao 01 con chung chưa thành niên tên Trần Thái Gia T1, sinh ngày 06/12/2019 cho bà Thái Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Bà Thái Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002167 ngày 13/10/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND KV8 – Khánh Hòa;

- THADS tỉnh Khánh Hòa;

- UBND xã Ninh Phước;

- Các đương sự;

- Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ





Dương Khánh Hưng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hứa Thị Mây Sum Phạm Ngọc Hùng
Dương Khánh Hưng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Khánh Hòa về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 – Khánh Hòa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện - cho lý hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger