|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày: 31/12/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trường;
Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST–HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Nhật N, sinh năm 1994, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã P, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phương H, con bà Lê Thị Hoài T; vợ Nguyễn Thị Ánh T1; bị cáo có 02 con sinh năm 2017 và năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/5/2021, bị UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 04/8/2021 thì chấp hành xong; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 01/9/2025, Nguyễn Nhật N do có nhu cầu sử dụng ma túy nên một mình đi từ nhà thuộc thôn T, xã P, tỉnh Lâm Đồng đến khu vực cầu T thuộc xã Đ, tỉnh Lâm Đồng để tìm mua ma túy của một người đàn ông tên P không rõ nhân thân lai lịch, do bạn bè xã hội giới thiệu. Khi đến nơi, N gặp P đang đứng ở trên cầu T nên đã đến gặp và hỏi mua ma túy với giá 3.000.000đồng thì P đồng ý. Sau khi nhận được tiền từ N thì P lấy trong người ra một gói nylon chứa ma túy đưa cho N. Sau khi mua được ma túy thì N mang về nhà cất giấu và sử dụng một mình dần. Đến khoảng 11 giờ 40 phút ngày 10/9/2025, khi N ở nhà một mình chuẩn bị tiếp tục sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an xã P đến kiểm tra và phát hiện mặt sau của gói thuốc lá hiệu War Horse đang đặt trên bàn uống nước có 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Lực lượng Công an xã P đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội qua tang, niêm phong tang vật và đưa N về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng và tài sản thu giữ: 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong.
Tại bản kết luận số 622/KL-KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận về đối tượng giám định: Mẫu tinh thể (ký hiệu M đựng trong một gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4139g (không phẩy bốn một ba chín gam), loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2018 của Chính phủ.
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị can Nguyễn Nhật N đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông tên P mà bị can N khai bán ma túy cho bị can, do hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đang tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSKV3 ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng đã truy tố bị can Nguyễn Nhật N ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tại phiên tòa:
Bị cáo không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản Cáo trạng và khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Nhật N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật N từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong số 622/2025-PC09 có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Bạch Phương N1”, “Ngô Văn N2” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L” (bên ngoài được dán băng keo trong) bên trong có một phong bì bưu điện đựng một mảnh giấy bạc màu vàng (bao gói vật chứng).
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, vào ngày 01/9/2025, bị cáo từ nhà đi xuống khu vực cầu T thuộc xã Đ, tỉnh Lâm Đồng để tìm mua ma túy của một người đàn ông tên P với số tiền là 3.000.000đồng. Sau khi mua được ma túy thì bị cáo mang về nhà cất giấu và sử dụng một mình dần. Đến khoảng 11 giờ 40 phút ngày 10/9/2025, bị cáo đang chuẩn bị tiếp tục sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an xã P đến kiểm tra phát hiện đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội qua tang, niêm phong tang vật và đưa bị cáo về trụ sở làm việc.
[2.1] Tại bản kết luận số 622/KL-KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận về đối tượng giám định: Mẫu tinh thể (ký hiệu M đựng trong một gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4139g (không phẩy bốn một ba chín gam), loại Methamphetamine. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thì bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về kết quả giám định và thừa nhận khối lượng ma túy trên là của bị cáo tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng.
[2.2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản Cáo trạng truy tố cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Nhật N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng truy tố là có căn cứ.
[2.3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, Bởi vì, ma túy là loại độc dược có nhiều tác hại đối với sức khỏe con người là nguyên nhân gây ra những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và phát sinh theo nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước ta bằng mọi biện pháp tuyên truyền, giáo dục toàn dân phòng chống ma túy và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới mọi hình thức nhưng chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này mà bị cáo đã đi mua về tàng trữ để sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do bị cáo đã gây ra.
[2.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2021 đã bị UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo.
[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.6] Từ những phân tích nhận định nêu trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với loại tội phạm này cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật; đồng thời, nhằm răn đe giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung như quan điểm luật tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và là người nghiện ma túy nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[4] Đối với người đàn ông tên P mà bị cáo N khai bán ma túy cho bị cáo, do hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đang tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Một phong bì niêm phong số 622/2025-PC09 có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Bạch Phương N1”, “Ngô Văn N2” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L” (bên ngoài được dán băng keo trong) bên trong có một phong bì bưu điện đựng một mảnh giấy bạc màu vàng (bao gói vật chứng). Hội đồng xét xử xét thấy, không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhật N 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2025.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong số 622/2025-PC09 có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Bạch Phương N1”, “Ngô Văn N2” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L” (bên ngoài được dán băng keo trong) bên trong có một phong bì bưu điện đựng một mảnh giấy bạc màu vàng (bao gói vật chứng).
(có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 24/12/2025 giữa Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lâm Đồng) .
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Nhật N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật Nam - Tàng trữ trái phép chất ma túy
