TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HNGĐ - ST
Ngày 29/12/2025.
V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Phiếu và bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.
Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2025/TLST- HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 26 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số:26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/12/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Trương Vân A, sinh năm 1999; Nơi cư trú: số nhà F, đường T, tổ B, phường T, tỉnh Ninh Bình.
- - Bị đơn: anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1991; Nơi cư trú: thôn A, xã Q, tỉnh Ninh Bình.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 21 tháng 10 năm 2025 và bản tự khai, nguyên đơn chị Trương Vân A trình bày: tôi và anh Nguyễn Ngọc S được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình vào ngày 28/9/2024. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống cùng gia đình anh S tại thôn A, xã Q, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung với nhau, anh S không tu chí làm ăn thường xuyên lêu lổng, tôi có khuyên bảo nhưng anh S không thay đổi còn quay sang đánh đập tôi khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Đến cuối tháng 5/2025, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng nên tôi đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại số nhà F, đường T, tổ B, phường T, tỉnh Ninh Bình để sinh sống và chúng tôi sống ly thân với nhau từ đó tới nay không còn quan tâm, quan hệ với nhau nữa. Nay tôi xác định mâu thuẫn vợ chồng tôi đã đến mức thật sự trầm trọng không thể khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc S. Về con chung: chúng tôi có một con chung là cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 01/5/2025, hiện cháu T đang ở cùng với tôi. Khi ly hôn tôi đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung cho tôi. Về tài sản và công nợ chung: tôi không đề ghị Tòa án xem xét giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng và đã nhiều lần tống đạt trực tiếp các loại văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Nguyễn Ngọc S vẫn vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.
Tại biên bản làm việc ngày 25/11/2025, ông Nguyễn Văn B - là bố đẻ anh Nguyễn Ngọc S cho biết: anh S, chị Vân A được tự do tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình vào ngày 28/9/2024. Sau khi kết hôn, anh S, chị Vân A sống cùng gia đình tôi tại thôn A, xã Q, tỉnh Ninh Bình. Anh S, chị Vân A chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng còn trẻ, tính cách trái ngược nhau, bất đồng quan điểm sống nên xẩy ra cãi chửi nhau, gia đình ông có khuyên bảo nhưng anh S, chị Vân A vẫn không khắc phục được mâu thuẫn với nhau. Đến tháng 5/2025, chị Vân A đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại phường T, tỉnh Ninh Bình để sinh sống và cả hai sống ly thân từ đó tới nay không còn quan tâm tới nhau nữa. Ông B xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh S, chị Vân A đến nay đã thật sự trầm trọng, cơ hội để vợ chồng đoàn tụ với nhau là rất thấp, việc ly hôn hay không do anh S, chị Vân A tự quyết định. Về con chung: anh S, chị Vân A có một con chung là cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 01/5/2025, hiện nay cháu T đang ở cùng với chị Vân A. Do hiện nay cháu T còn nhỏ, rất cần sự chă sóc của người mẹ, để cháu T phát triển bình thường nên để cho chị Vân A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Nếu chị Vân A không nuôi được cháu T thì ông đề nghị gia đình ông được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T.
Tại phiên toà bà Kiểm sát viên cũng đã có bài phát biểu khẳng định quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung bà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: xử cho chị Trương Vân A được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc S; về con chung giao cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 01/05/2025 cho chị Trương Vân A tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Ngọc S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị Trương Vân A. Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung; về án phí: chị Trương Vân A phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Vân A đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Nguyễn Ngọc S có địa chỉ tại thôn A, xã Q, tỉnh Ninh Bình. Vì vậy việc Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình áp dụng Điều 28; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do chính đáng dù đã được triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị Trương Vân A và anh Nguyễn Ngọc S là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn hai người chung sống với nhau tại: thôn A, xã Q, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách trái ngược nhau nên thường xuyên xẩy ra va chạm cãi chửi nhau. Đến tháng 5/2025, chị Vân A đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại số nhà F, đường T, tổ B, phường T, tỉnh Ninh Bình để sinh sống và cả hai sống ly thân với nhau từ đó tới nay không còn quan tâm, quan hệ với nhau nữa. Chị Vân A khẳng định hiện nay mâu thuẫn vợ chồng chị đã đến mức thật sự trầm trọng không khắc phục được, chị không còn yêu thương anh S nữa. Bản thân anh S không có mặt tại Tòa án để làm việc, dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều đó chứng tỏ anh S không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do đó có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trương Vân A và anh Nguyễn Ngọc S đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Trương Vân A. Xử cho chị Trương Vân A được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc S là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: chị Trương Vân A và anh Nguyễn Ngọc S có một con chung là cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 01/5/2025, hiện cháu T đang ở cùng với chị Vân A. Hiện nay cháu T còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi và rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu Nguyễn Xuân T nên cần giao cháu T cho chị Trương Vân A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật. Do chị Vân A không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung nên vấn đề cấp dưỡng Tòa án không xem xét.
[4] Về tài sản và công nợ chung: chị Trương Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà không xét.
[5] Về án phí: chị Trương Vân A phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên đây:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Xử cho chị Trương Vân A được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc S.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 01/5/2025 cho chị Trương Vân A tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Xuân T đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Ngọc S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị Vân A.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Chị Trương Vân A phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Vân A đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo biên lai số 0002119, ngày 23/10/2025.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đinh Xuân Tưởng |
Bản án số 54/2025/HNGĐ - ST ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Vân Anh - Nguyễn Ngọc Sơn
