Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 53/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 29 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp ly hôn và nợ chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang.

Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung;

Ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Ngọc Phấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số: 50/2025/TLPT-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nợ chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 58/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 11 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 54/2025/QĐPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1975; (có mặt)

Địa chỉ: Số A, khóm T, phường L, tỉnh Vĩnh Long.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

Ông Trần Hoàng T - Luật sư của Văn phòng Luật sư Trần Bá T1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V. (có mặt)

Địa chỉ: F, đường P, khóm B, phường P, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1973; (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, khóm T, phường L, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1964; (có mặt)

Địa chỉ: Số A, đường P, phường L, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T2:

Bà Lê Thị M1, sinh năm 1958; (có mặt)

Địa chỉ: Số D đường N, phường L, tỉnh Vĩnh Long.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T2, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện ngày 08/01/2025, ngày 24/3/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: bà H và ông Mai T3 đến hôn nhân do được mai mối, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là phường T), thành phố V, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 29/9/2003.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Khoảng từ tháng 8, tháng 9/2024 cho đến nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, ông M tự ý lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 845884, thửa đất số 145 do bà Võ Thị H đứng tên là tài sản riêng của bà H đi vay nợ của bà Nguyễn Thị T2 sử dụng tiêu xài cá nhân nên vợ chồng càng thêm mâu thuẫn. Từ khi sống ly thân đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không nói chuyện được với nhau, bà H xác định không còn tình cảm với ông M, bà H giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông M.

- Về con chung: bà H và ông M có 02 con chung: Nguyễn Ngọc Mai T4, sinh ngày 27/02/1995 và Nguyễn Ngọc Mai T5, sinh ngày 26/01/2004, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà H không đồng ý liên đới cùng ông M trả tiền cho bà T2. Vì ông M vay mượn tiền của bà T2, bà H hoàn toàn không biết, bà H không ký tên vào Giấy nhận tiền ngày 04/01/2023, không sử dụng số tiền ông M vay của bà T2, ông M vay tiền sử dụng cá nhân. Bà H không gặp bà T2 thỏa thuận vay tiền, không nhận tiền do bà T2 giao như lời trình bày của bà T2.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 845884, thửa đất số 145 do Võ Thị H đứng tên do được thừa kế riêng. Ông M tự ý lấy thế chấp cho bà T2, bà H không hay. Đến khoảng tháng 8, tháng 9 năm 2024, ông M đi làm xa không về thì bà T2 đến nhà tìm, bà H nói Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 845884 bà T2 đang giữ và yêu cầu bà H trả nợ thì bà H mới biết ông M đã lấy Giấy chứng nhận của bà thế chấp cho bà T2 để vay tiền.

Bà H may đồ tại nhà, con gái đi làm công ty, con rể cũng đi làm nên có tiền trang trải cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, còn ông M đã nghỉ làm thầu xây dựng khoảng hai năm nay, ông M không có đưa tiền cho bà H, bà khẳng định số nợ ông M vay của bà T2 để ông M tiêu xài cá nhân, không phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình nên bà H không đồng ý liên đới cùng ông M trả nợ theo yêu cầu của bà T2.

Bà H yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị T2 phải trả bà H bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 845884, thửa đất số 145 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/9/2022 cho bà Võ Thị H đứng tên. Ngoài ra, không còn trình bày gì thêm.

Tại tờ tường trình ngày 05/3/2025, bị đơn ông Nguyễn Hữu M trình bày:

Vào ngày 04/01/2023, ông thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 845884, thửa đất số 145 do bà Võ Thị H đứng tên cho bà T2 để vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng, mục đích vay để tiêu xài cá nhân.

Đến ngày 11/01/2023, ông M vay thêm 20.000.000 đồng, tổng cộng là 50.000.000 đồng.

Ngày 01/02/2023, ông M vay thêm 18.000.000 đồng, cộng thêm 2.000.000 đồng lãi là 20.000.000 đồng, tổng cộng 70.000.000 đồng.

Ngày 01/4/2023, vay thêm 9.400.000 đồng, lãi hai tháng 5.600.000 đồng là 15.000.000 đồng, tổng cộng 85.000.000 đồng.

Ngày 07/6/2023, vay thêm 11.600.000 đồng + thêm 36.000.000 đồng, lãi là 15.000.000 đồng, tổng cộng 100.000.000 đồng;

Ngày 06/7/2023, vay thêm 6.000.000 đồng + thêm 4.000.000 đồng, lãi là 10.000.000 đồng, tổng cộng 110.000.000 đồng.

Ngày 19/7/2023, vay thêm 3.000.000 đồng + thêm 2.000.000 đồng là 5.000.000 đồng (+ 115.000.000 đồng) + thêm 5.000.000 đồng là 120.000.000 đồng.

Ngày 07/8/2023, vay thêm 7.200.000 đồng, thêm 2.800.000 đồng lãi là 10.000.000 đồng, tổng cộng 130.000.000 đồng;

Ngày 20/9/2023, vay thêm 8.100.000 đồng, thêm 2.600.000 đồng lãi 1/2 tháng là 10.700.000 đồng, tổng là 140.700.000 đồng;

Ngày 04/9/2023, vay thêm 1.100.000 đồng, thêm 3.200.000 đồng lãi 1/2 tháng là 4.300.000 đồng, tổng cộng là 145.000.000 đồng.

Ông M đóng lãi đến ngày 16/8/2024 thì không còn khả năng đóng lãi nữa nên ngưng cho đến nay. Số tiền ông vay của bà T2 thì bà H và các con của ông đều không biết. Ông M yêu cầu Tòa án xem xét cho ông trả nợ gốc cho bà T2; đồng thời ông M có đơn xin vắng mặt suốt quá trình tố tụng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 trình bày:

Nhà của bà T2 với ông M, bà H gần nhau. Vào năm 2022, ông M sửa nhà cho bà T2 nên quen biết nhau, do tin tưởng ông M là thầu xây dựng và ông M, bà H có tài sản nên khi ông M hỏi vay tiền bà T2 đồng ý cho vay số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), lãi suất 4%/tháng. Khi vay, ông M có viết “Giấy vay tiền” ngày 04/01/2023, chỉ có một bản gốc bà T2 đã nộp cho Tòa án, bà H không ký tên vào Giấy vay tiền nhưng cùng ông M đến nhà bà T2 hỏi vay tiền, bà T2 giao cho bà H nhận 30.000.000 đồng nhưng bà H chưa kịp ký tên vào biên nhận thì con bà H gọi báo cháu ngoại bà H mới sinh khóc nên bà H phải về gấp mà chưa kịp ký tên; do là hàng xóm, tin tưởng nhau nên bà T2 cũng không yêu cầu bà H ký tên bổ sung.

Sau đó, vợ chồng ông M, bà H tiếp tục hỏi mượn của bà T2 nhiều lần cùng mục đích là trả tiền công thợ, xoay sở kinh tế gia đình, như sau:

  1. Ngày 11/01/2023, mượn số tiền 20.000.000 đồng.
  2. Ngày 01/02/2023, mượn số tiền 20.000.000 đồng.
  3. Ngày 01/04/2023, mượn số tiền 15.000.000 đồng.
  4. Ngày 07/6/2023, mượn số tiền 15.000.000 đồng.
  5. Ngày 06/07/2023, mượn số tiền 10.000.000 đồng.
  6. Ngày 19/07/2023, mượn số tiền 10.000.000 đồng.
  7. Ngày 07/8/2023, mượn số tiền 10.000.000 đồng.
  8. Ngày 20/9/2023, mượn số tiền 10.700.000 đồng.
  9. Ngày 04/09/2023, mượn số tiền 4.300.000 đồng.

Tổng cộng 145.000.000 đồng. Tất cả các lần nhận tiền và viết thêm vào “Giấy nhận tiền” đều do ông M viết và đều có mặt bà H - vợ ông M, bà H trực tiếp nhận tiền mặt từ bà T2 30.000.000 đồng, các lần còn lại do ông M nhận tiền. Việc giao nhận tiền tại nhà của bà T2, chỉ có con của bà T2 biết. Tất cả các lần nhận tiền, bà H cũng không ký tên vào biên nhận mà chỉ có ông M ký tên do thân tình nên tin tưởng nhau.

Khi vay số tiền 30.000.000 đồng, bà H và ông M thế chấp cho bà T2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 845884 do bà Võ Thị H đứng tên, không có đăng ký thế chấp với cơ quan có thẩm quyền. Hiện nay bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T2 đang giữ.

Ông M trả lãi được 03 tháng từ 2/2023 đến 4/2023 mỗi tháng là 1.200.000 đồng, tổng lãi là 3.600.000 đồng thì ngưng cho đến nay không trả lãi và gốc. Ông M là người giao lãi bằng tiền mặt cho bà T2 trực tiếp nhận.

Nay bà T2 yêu cầu ông M, bà H trả nợ gốc 145.000.000 đồng và lãi suất 0,83%/tháng tính từ tháng 01/2023 đến khi thanh toán xong nợ, tạm tính gốc và lãi là 172.058.000 đồng; yêu cầu trả đủ một lần thì bà T2 sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 845884 do bà Võ Thị H đứng tên. Ngoài Giấy nhận tiền ngày 04/01/2023 thì việc vay tiền giữa bà T2 với ông M không còn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án sơ thẩm số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long quyết định (tóm tắt):

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị H với ông Nguyễn Hữu M.

Về con chung: bà H và ông M có hai con chung: Nguyễn Ngọc Mai T4, sinh ngày 27/02/1995 và Nguyễn Ngọc Mai T5, sinh ngày 26/01/2004, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: bà H và ông M không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: không có.

Buộc bà Nguyễn Thị T2 trả bà Võ Thị H bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 845884, thửa đất số 145, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (nay là phường L, tỉnh Vĩnh Long) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh V) cấp ngày 27/9/2022 cho bà Võ Thị H.

Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T2.

Buộc ông Nguyễn Hữu M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị T2 tổng cộng 174.691.000 (một trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn) đồng, bao gồm: nợ gốc 142.123.000 đồng, nợ lãi 32.568.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T2 về việc yêu cầu bà Võ Thị H liên đới với ông Nguyễn Hữu M trả bà T2 tiền vốn và lãi tổng cộng 174.691.000 đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 29/8/2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm và chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà: Yêu cầu ông M, bà H trả nợ gốc là 145.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 04/01/2023 đến ngày 18/8/2025 là 30.077.250 đồng; yêu cầu trả đủ một lần thì bà T2 sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 845884 do bà Võ Thị H đứng tên.

Ngày 05/12/2025, bà T2 nộp đơn xin rút đơn khởi kiện, rút đơn khởi kiện bổ sung và rút đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà H trình bày: Bà không rút đơn khởi kiện và không đồng ý việc bà T2 rút đơn khởi kiện. Bà không đồng ý với kháng cáo của bà T2.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là ông T trình bày: Bà H không rút đơn khởi kiện và không đồng ý với việc bà T2 rút đơn khởi kiện của bà T2 nên yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết theo quy định pháp luật. Kháng cáo của bà T2 là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ông M có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T2, người đại diện theo ủy quyền của bà T2 là bà M1 trình bày: Bà T2 có đơn xin rút lại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và rút đơn kháng cáo đã nêu trong đơn đề ngày 05/12/2025 do bà T2 nộp trực tiếp tại Tòa án. Tuy nhiên, do bà H không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của bà T2 nên bà T2 yêu cầu Tòa án tạm ngừng phiên tòa cho bà T2 cung cấp tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ cho kháng cáo của bà T2. Nay bà T2 đã cung cấp USB chứa file ghi âm và văn bản xác nhận nguồn gốc của đoạn ghi âm, trích lược nội dung đối thoại giữa bà T2 và bà H, đơn yêu cầu giám định giọng nói của bà H nhưng tại phiên tòa, bà H thừa nhận bà H có nói chuyện với bà T2 những câu đối thoại như trích lược nội dung ghi âm do bà H cung cấp nên bà T2 không yêu cầu giám định nữa. Bà T2 rút kháng cáo về việc yêu cầu tính lại tiền lãi, phần còn lại của kháng cáo yêu cầu Tòa án chấp nhận kháng cáo của bà T2.

Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 148, khoản 1 và khoản 5 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  • Đình chỉ một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T2 về việc yêu cầu tính lại tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng.
  • Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2.
  • Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long.
  • Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T2 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T2, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Bà Nguyễn Thị T2 kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Ông M có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án tại Tòa án các cấp. Vì vậy, căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông M.

Theo đơn khởi kiện, bà H cung cấp địa chỉ của ông M là: Số A, khóm T, phường L, tỉnh Vĩnh Long. Theo đơn xin vắng mặt (BL 85) và căn cước công dân (BL 86) của ông M thì nơi thường trú của ông M là số 160, T, T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (nay là số A, khóm T, phường L, tỉnh Vĩnh Long). Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H có trình bày tại biên bản hòa giải ngày 24/3/2025 là ông M đi làm nhưng vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú cùng bà, bà không biết địa chỉ mới của ông M nên không cung cấp cho Tòa án được. Suốt quá trình giải quyết vụ án, không có đương sự nào cung cấp địa chỉ khác của ông M nên Tòa án các cấp tiến hành các thủ tục tống đạt bản án cho ông M theo địa chỉ nêu trên là đúng quy định.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T2 có đơn xin rút đơn khởi kiện, rút đơn khởi kiện bổ sung và rút đơn kháng cáo đối với yêu cầu khởi kiện độc lập nhưng nguyên đơn bà H không đồng ý việc rút đơn khởi kiện của bà T2, đồng thời ông M vắng mặt, không có ý kiến về bản án, quyết định sơ thẩm và không có ý kiến đồng ý việc rút đơn khởi kiện của bà T2. Hội đồng xét xử có

giải thích cho bà T2 về quy định tại Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Sau khi được nghe giải thích, bà T2 trình bày bà yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết yêu cầu và đơn kháng cáo của bà theo hướng chấp nhận kháng cáo nên Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị T2:

[2.1] Về việc bà T2 cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi theo lãi suất 0,83%/tháng là có lợi cho bị đơn, vì lãi suất trong xã hội cho vay tối đa là 20%/năm bằng 1,67%/tháng và tính lãi thu vượt hàng tháng trừ vào tiền gốc là không phù hợp khi ông M, bà H còn nợ tiền lãi của bà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, bà T2 có Giấy ủy quyền đề ngày 12/3/2025 nội dung bà T2 (bên ủy quyền - bên A) ủy quyền cho bà Lê Thị M1 (bên nhận ủy quyền - bên B) tham gia tố tụng giải quyết vụ kiện. Tại điểm d mục số 2 trong Giấy ủy quyền về phạm vi ủy quyền có nội dung “Toàn quyền quyết định giải quyết vụ kiện, bên A cam kết không khiếu nại bất cứ điều gì về sau.”.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà M1 trình bày yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng, tiền lãi là 33.377.250 đồng, cộng tiền gốc 145.000.000 đồng tổng cộng là 178.677.250 đồng và đồng ý cấn trừ vào nợ gốc đối với số tiền lãi vượt quá quy định (trang 3 và 8 của biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 18/8/2025 - BL 150-156).

Căn cứ vào giấy nhận tiền và lời trình bày của hai bên không xác định thời hạn vay tiền. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là đúng quy định.

Bà T2 và ông M đều trình bày thống nhất về mức lãi suất là 4%/tháng.

Tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định như sau:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Như vậy, nếu các đương sự không có thỏa thuận khác và đương sự yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật thì việc tính lãi sẽ được áp dụng theo quy định nêu trên là 20%/năm, tức là 1,67%/tháng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà M1 với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bà T2 yêu cầu tính lãi suất 0,83%/tháng là ý chí tự nguyện, không ai ép buộc và đồng ý khấu trừ tiền lãi bị đơn đóng vượt vào nợ gốc là phù hợp với quy định tại Điều 9 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Theo Điều 9 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn: “Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay.”. Tòa án cấp sơ thẩm đã tính lãi đúng quy định nêu trên. Sau khi tính lãi và cấn trừ thì buộc ông M phải trả cho bà T2 số tiền 174.691.000 đồng, bao gồm: nợ gốc 142.123.000 đồng, nợ lãi 32.568.000 đồng là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bà T2 rút yêu cầu kháng cáo nội dung này, đồng ý với cách tính lãi của bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 289, 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bà T2 về việc yêu cầu tính lại tiền lãi.

[2.2] Về việc bà T2 yêu cầu bà H cùng có nghĩa vụ liên đới với ông M trả nợ cho bà, yêu cầu trả tiền vay và lãi một lần thì bà T2 sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.2.1] Bà T2 và ông M thống nhất về số tiền bà T2 cho ông M vay và lãi suất. Việc vay tiền có làm giấy tờ được hai bên thừa nhận. Giấy nhận tiền không có chữ ký, chữ viết của bà H. Bà T2 cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh có sự tham gia giao kết của bà H. Bà H trình bày không biết việc ông M vay tiền, không cùng sử dụng số tiền ông M vay của bà T2 nên bà H không đồng ý liên đới với ông M trả tiền cho bà T2.

Xét thấy, bà T2 không có căn cứ chứng minh ông M dùng số tiền bà T2 cho ông M vay sử dụng vào mục đích sinh hoạt nhằm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của gia đình ông M, bà H hoặc làm kinh tế chung với bà H. Tại Tờ tường trình ngày 05/3/2025 (BL 83), ông M thừa nhận có vay tiền của bà T2 tổng cộng 145.000.000 đồng như bà T2 trình bày, ông M có ý kiến số tiền ông vay của bà T2 mục đích dùng tiêu xài cá nhân, bà H và con ông không ai hay biết. Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà H cũng không đồng ý cùng ông M liên đới trả nợ cho bà T2. Do ông M thừa nhận có nợ nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ và không có căn cứ buộc bà H liên đới cùng ông M trả nợ nên sau khi Tòa án cấp sơ thẩm tính toán và cấn trừ lãi thì chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T2, buộc ông M có nghĩa vụ thanh toán cho bà T2 tổng cộng 174.691.000 đồng, bao gồm: nợ gốc 142.123.000 đồng, nợ lãi 32.568.000 đồng và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T2 về việc yêu cầu bà H liên đới với ông M trả nợ cho bà T2 là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T2 cung cấp file ghi âm và lược ghi cho rằng có những câu là giọng nói của bà H, trong đó có nội dung yêu cầu đưa cho bà T2 số tiền 50.000.000 đồng để bà T2 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H thừa nhận có cuộc nói chuyện với bà T2 và thừa nhận có giọng nói của bà H trong lần hẹn gặp bà T2 để chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà (do ông M lấy đưa cho bà T2) chứ bà không thừa nhận có cùng ông M vay tiền và sử dụng tiền vay của bà T2. Hội đồng xét xử xét thấy trong các câu nói được lược ghi thì không có câu nói nào có nội dung bà H thừa nhận có cùng ông M vay tiền hoặc cùng sử dụng tiền vay của bà T2 và cũng không có câu, từ nào có nội dung bà H đồng ý cùng với ông M trả nợ cho bà T2.

Như vậy, bà T2 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc bà yêu cầu bà H có nghĩa vụ liên đới trả nợ là có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo của bà T2 về nội dung này.

[2.2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T2 trình bày hiện bà T2 đang giữ bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 845884, thửa đất số 145, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/9/2022 cho bà Võ Thị H. Bà T2 thừa nhận bà giữ nhằm mục đích làm tin.

Việc bà T2 giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H là không đúng quy định của pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà H,

buộc bà T2 phải trả lại bà H bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là đúng quy định.

[2.2.3] Về việc bà T2 yêu cầu bà H, ông M trả một lần hết nợ gốc và lãi bà mới trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Các đương sự phải thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện theo Luật Thi hành án dân sự.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T2 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T2.

[4] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị T2 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 289, 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T2 về việc yêu cầu tính lại tiền lãi.

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T2 về việc buộc bà Võ Thị H có nghĩa vụ liên đới cùng ông Nguyễn Hữu M trả nợ cho bà Nguyễn Thị T2;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long.

Căn cứ vào các điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 37, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các điều 357, 463, 464, 465, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, các điều 26, 27, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H.

Về hôn nhân: Bà Võ Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Hữu M.

Về con chung: Bà Võ Thị H và ông Nguyễn Hữu M có hai con chung là Nguyễn Ngọc Mai T4, sinh ngày 27/02/1995 và Nguyễn Ngọc Mai T5, sinh ngày 26/01/2004, đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Bà Võ Thị H trình bày bà và ông Nguyễn Hữu M không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà Võ Thị H trình bày bà và ông Nguyễn Hữu M không có nợ chung.

2. Buộc bà Nguyễn Thị T2 trả cho bà Võ Thị H bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 845884, thửa đất số 145, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (nay là phường L, tỉnh Vĩnh Long) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh V) cấp ngày 27/9/2022 cho bà Võ Thị H.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T2.

Buộc ông Nguyễn Hữu M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị T2 tổng cộng 174.691.000 (một trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn) đồng, bao gồm: nợ gốc 142.123.000 (một trăm bốn mươi hai triệu, một trăm hai mươi ba nghìn) đồng, nợ lãi 32.568.000 (ba mươi hai triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng, bên phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của

số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T2 về việc yêu cầu bà Võ Thị H liên đới với ông Nguyễn Hữu M trả cho bà Nguyễn Thị T2 tiền vốn và lãi tổng cộng là 174.691.000 (một trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn) đồng.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Võ Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0007638 ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Vĩnh Long). Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả bà Võ Thị Hằng S tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0007789 ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Vĩnh Long).

Buộc ông Nguyễn Hữu M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 8.734.550 (tám triệu bảy trăm ba mươi bốn nghìn năm trăm năm mươi) đồng.

Bà Nguyễn Thị T2 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị T2 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Vĩnh Long;

- TAND KV1 - Vĩnh Long;

- Phòng THADS KV1 - Vĩnh Long;

- Phòng GĐ, KT, TT & THA TAND tỉnh;

- Lưu: hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HNGĐ-PT ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn và nợ chung

  • Số bản án: 53/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nợ chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Hằng - Nguyễn Hữu Mai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger