TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2025/HSST Ngày: 23/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Bùi Đình Thông.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhạ và ông Võ Quốc Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/HSST-QĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
- Nguyễn Trường G; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 10 năm 1991; Nơi cư trú: Số A, ngõ B, đường Q, tổ dân phố G Đ, phường N, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Con ông: Nguyễn Thanh và bà: Cao Thị T; Vợ: Bùi Thị Huyền T1 (đã ly hôn); Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 05/5/2009 TAND thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản.
Ngày 28/12/2009 TAND thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 32/2009/HSST. Tại bản án này áp dụng điểm a khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự năm 1999 theo Nghị quyết số 33/2009 ngày 19/6/2009 xác định hành vi của Nguyễn Trường G tại Bản án số 08/2009/HSST ngày 05/5/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh không còn được coi là tội phạm.
Ngày 29/01/2010 TAND thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo bản án số 01/2010/HSST; tổng hợp hình phạt với bản án số 32/2009/HSST ngày 28/12/2009 buộc phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 27 tháng tù, (đã được xóa án tích).
Ngày 14/9/2009 có hành vi trộm cắp tài sản, ngày 12/10/2009 bị Công an thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 200.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 12/10/2009.
Ngày 05/02/2021, bị UBND phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 04 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 05/6/2021 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Mai Sỹ L, sinh năm 1975, Luật sư thuộc văn phòng L3 và cộng sự, địa chỉ: P, chung cư A L, khối B, phường V, tỉnh Nghệ An. (Có mặt).
Ông Trần Thanh M, sinh năm 1985, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. (Có mặt).
- Người bị hại: Anh Trần Xuân H, sinh năm 1978, Nghề nghiệp: Lao động tự do, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Cao Thị T, sinh năm 1968, Nghề nghiệp: Lao động tự do, địa chỉ: Số A, ngõ B, đường Q, tổ dân phố G Đ, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
Anh Trần Tiến M1, sinh năm 2003, Nghề nghiệp: Lao động tự do, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Chị Bùi Thị Huyền T1, sinh năm: 1994, Nghề nghiệp: Lao động tự do, địa chỉ: Tổ dân phố G Đ, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Anh Nguyễn Duy T2, sinh năm 1974, Nghề nghiệp: Lao động tự do, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
Anh Nguyễn Huy H1, sinh năm 1976, Nghề nghiệp: Lao động tự do, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Trọng L1, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1983, địa chỉ: Tổ dân phố D N, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
Anh Lê Trọng V, sinh năm: 1980, địa chỉ: Tổ dân phố D N, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Chị Trần Thị H2, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Ông Nguyễn Huy T3, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Ông Trần Đình T4, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Anh Trần Văn T5, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Anh Bùi Văn A, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Ông Đình Văn T6, sinh năm 1958, địa chỉ: Tổ dân phố D N, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
Ông Bùi Phan S, sinh năm 1968, địa chỉ: Tổ dân phố B Đ, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Huy H3, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn T, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do xuất phát từ việc va chạm trong quá trình tham gia giao thông giữa anh Trần Xuân H với bà Cao Thị T xẩy ra vào ngày 05/5/2025, Nguyễn Trường G (là con trai bà T) đã dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần anh Trần Xuân H để chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 14 giờ ngày 09/5/2025, sau khi chở bà T đến Bệnh viện Đ để điều trị, G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38F1-101.34 đi đến nhà anh H, khi đi trong cốp xe có để sẵn một con dao từ trước. Khi đến nhà do anh H không có ở nhà nên G đã tìm đến chỗ làm việc của anh H (anh H làm nghề thợ xây), tại ngôi nhà đang xây dựng của anh Lê Trọng V. Khi đến trước nhà anh V, G dừng xe ở đường bê tông rồi cầm theo con dao đi vào trong nhà, đứng ở phía trong bên phải cửa chính đối diện anh H lúc đó đang đứng ở sát tường cạnh cửa ra vào phòng lồi, G cầm con dao chỉ về phía anh H và lớn tiếng đe doạ. Nghe tiếng ồn ào nên anh V và chị Q (vợ anh V) đi từ phía sau nhà ra nói G không được to tiếng trong nhà, có việc gì đi ra ngoài đường nói chuyện, G cầm theo con dao đi ra ngoài đường bê tông. Lúc này, do lo sợ nên anh Hứa M2 của anh Nguyễn Duy T2 số tiền 1.000.000 đồng rồi đi ra ngoài đường bê tông đưa toàn bộ số tiền này cho G, G cầm tiền rồi ra về. Số tiền có được G đưa cho bà T 700.000 đồng, còn 300.000 đồng G tiêu xài cá nhân.
Lần thứ 2: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 19/5/2025 anh H đang ở nhà, thì nghe tiếng gọi lớn ngoài cổng, nên dậy bật điện phòng khách rồi đi ra thấy G đang đứng ở cổng, xe máy dựng ở ngoài đường. Khi anh H đang đi ra để mở cổng thì G lớn tiếng chửi bới rồi đi vào phòng khách. Tại phòng khách, G tiếp tục đe doạ, đồng thời yêu cầu anh H cầm theo căn cước công dân, bằng lái xe và điều khiển xe mô tô của anh H lên nhà G để nói chuyện. Do lúc này anh H đang ở nhà một mình, sợ bị G đánh nên đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38AF-00251 đến nhà G, còn G điều khiển xe mô tô của mình đi cùng anh H. Khi đến nhà G, anh H đưa xe mô tô vào để ở sân, rồi cùng với G đi vào phòng khách. Tại đây, theo lời trình bày của anh H thì G đã dùng một con dao có mũi nhọn đe doạ, dí vào cẳng tay phải làm anh H bị xây xước da, dùng tay đấm vào người và dùng còng số 8 còng tay anh H vào ghế gỗ ở phòng khách, G yêu cầu anh H viết giấy vay nợ số tiền 7.625.000 đồng. Tuy nhiên, G không thừa nhận nội dung này mà chỉ thừa nhận việc yêu cầu anh H đến nhà mình để có trách nhiệm với việc gây tai nạn giao thông đối với bà T. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 20/5/2025, G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38F1-101.34 của G chở anh H đi về nhà anh H; còn xe mô tô biển kiểm soát 38AF-002.51 và căn cước công dân của anh H thì để lại tại nhà G. Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 20/5/2025, khi về đến nhà anh H, G vào nhà đi một vòng kiểm tra các đồ dùng trong nhà và nói: Nhà anh có tủ, điều hòa đầy đủ rồi chi nữa. Sau đó, G tiếp tục đe dọa: Anh coi đó không chi ngày mai ngày mốt tui xuống chở về. Anh H lo sợ G sẽ tiếp tục đánh đập và chở các đồ đạc trong nhà mình đi nên liền nói với G: Ngày mai anh đưa cho em khoảng ba triệu hoặc ba triệu rưỡi chi đó. G nói với anh H phải chắc chắn rồi điều khiển xe mô tô của mình đi về nhà ngủ. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/5/2025, anh H đến nhà gặp anh Nguyễn Huy H1 mượn số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi mượn được tiền, anh H mua một số đồ ăn đưa về nhà, rồi thuê xe taxi của anh Nguyễn Trọng L1 chở đến ngõ B đường Q, phường N rồi đi bộ vào nhà G. Khi vào gặp G ở phòng khách, anh H đưa cho G số tiền 2.700.000 đồng, rồi xin G cho lấy xe mô tô và căn cước công dân về, nhưng G chỉ đồng ý cho anh H lấy xe mô tô, còn căn cước công dân của anh H thì G vẫn giữ. Số tiền có được, G đưa cho bà T 2.000.000 đồng, còn 700.000 đồng G tiêu xài cá nhân.
Tổng số tiền Nguyễn Trường G đã chiếm đoạt của anh Trần Xuân H là 3.700.000 đồng.
Chiều ngày 20/5/2025, anh H tiếp tục đi làm công việc thợ xây tại nhà anh Lê Trọng V. Đến ngày 23/5/2025, anh H đến Công an phường N tố giác hành vi của Nguyễn Trường G, cơ quan Công an đã lập biên bản kiểm tra dấu vết trên thân thể anh Trần Xuân H.
Ngày 24/5/2025, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trường G tại tổ dân phố G Đ, phường N, tỉnh Hà Tĩnh, thu giữ các đồ vật có liên quan gồm: 01 con dao dài 37 cm; 01 chìa khóa (loại chìa khóa còng số 8) bằng kim loại màu bạc; 01 nhẫn kim loại màu bạc; 01 căn cước công dân mang tên Trần Xuân H.
Tại bản Kết luận giám định số 146/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 03/6/2025 của Trung tâm P, kết luận thương tích của anh Trần Xuân H tại thời điểm giám định là: Vùng dưới xương bã vai trái hai vết biến đổi sắc tố da: Vết ngoài, tỷ lệ phần trăm TTCT là 0,5%; vết trong, tỷ lệ phần trăm TTCT là 0,5%; Vùng lưng bên trái vết biến đổi sắc tố da, tỷ lệ phần trăm TTCT là 0,5%; Mặt sau ngoài 1/3 giữa cẳng tay phải sẹo vết thương kích thước nhỏ, tỷ lệ phần trăm TTCT là 01%; Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 02%. Thương tích 1/3 giữa cẳng tay phải do vật sắc nhọn, thương tích ở vùng lưng do vật tày tác động gây nên.
Tại bản Kết luận giám định số 777/KL-KTHS ngày 23/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: 01 con dao gửi giám định là dao sắc, nhọn thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 2 Luật số 42/2024/QH15 ngày 29 tháng 6 năm 2024 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì con dao gửi giám định khi sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật thì thuộc vũ khí quân dụng.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 Căn cước công dân số 042078014490 mang tên Trần Xuân H; 01 nhẫn bằng kim loại màu sáng bạc, mặt nhẫn đính đá; 01 chìa khóa (loại chìa khóa còng số 8) bằng kim loại màu bạc; 01 con dao dài 37 cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 25,5 cm, phần rộng nhất 3,5 cm, có một mặt sắc, lưỡi dao bị hoen gỉ, mũi dao nhọn; phần cán dao bằng kim loại dài 11,5 cm, phần rộng nhất rộng 04 cm, được cuốn băng dính màu đen; Vỏ dao bằng gỗ kích thước 26,5 x 06 cm, được cuốn băng dính màu đen. (Đều thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp).
01 xe máy biển kiểm soát 38AF-002.51, số loại: EX KING50 Màu sơn: đen, Số máy: VDEJQ139FMB7206808, số khung: RPEUCBEPELA206808 đã qua sử dụng. (Thu giữ của anh Trần Xuân H)
01 xe mô tô biển kiểm soát 38F1-101.34, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Janus, số máy E3Y8E142887, số khung: RLCSEC820LY142880, đã qua sử dụng, mang tên Bùi Thị Huyền T1 - vợ cũ của bị cáo. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: A1779, màu vàng, màn hình bị rạn vỡ, có gắn thẻ sim seri 8984 0480 0092 0713 865, không lên nguồn. (Thu giữ của Nguyễn Trường G)
Quá trình điều tra xác định: Căn cước công dân số 042078014490 của anh Trần Xuân H; xe mô tô biển kiểm soát 38AF-002.51 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Trần Tiến M1 (là con trai anh H). Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Số vật chứng còn lại, hiện chưa xử lý, được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Tĩnh để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về phần dân sự: Bà Cao Thị T (mẹ bị cáo) đã tự nguyện đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Tĩnh nộp lại số tiền 3.700.000 đồng để thực hiện việc bồi thường cho bị hại.
Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKS-KV3 ngày 31 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Trường G về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát khu vực 3 vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường G, phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G mức án từ 18 đến 24 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, xử lý theo quy định của Luật quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 01 chìa khóa (loại chìa khóa còng số 8) bằng kim loại màu bạc. Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 37 cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 25,5 cm, phần rộng nhất 3,5 cm, có một mặt sắc, lưỡi dao bị hoen gỉ, mũi dao nhọn; phần cán dao bằng kim loại dài 11,5 cm, phần rộng nhất 04 cm, được cuốn băng dính màu đen; Vỏ dao bằng gỗ kích thước 26,5x06 cm, được cuốn băng dính màu đen. Tịch thu, hóa giá sung công quỹ 1/2 giá trị xe mô tô biển kiểm soát 38F1-101.34, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Janus, số máy E3Y8E142887, số khung: RLCSEC820LY142880, đã qua sử dụng, mang tên Bùi Thị Huyền T1 (sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú tổ dân phố G, phường N, tỉnh Hà Tĩnh - vợ cũ Nguyễn Trường G). Trả lại 1/2 giá trị còn lại của xe mô tô cho chị Bùi Thị Huyền T1. Trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Trường G gồm: 01 nhẫn bằng kim loại màu sáng bạc, mặt nhẫn đính đá; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: A1779, màu vàng, màn hình bị rạn vỡ, có gắn thẻ sim seri 8984 0480 0092 0713 865, không lên nguồn; bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Luật sư Trần Thanh M tranh luận: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo với các tình tiết: Khai báo thành khẩn, bị hại có một phần lỗi, mẹ bị cáo bị bệnh ung thư, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đang phải nuôi 3 con nhỏ, gia đình bị cáo là hộ cận nghèo.
Luật sư Mai Sỹ L tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội vì việc truy tố của Viện kiểm sát về tội danh “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình là chưa thuyết phục, lý do: Ngày 09/5/2025 G chỉ đến gặp anh H để nói về trách nhiệm của anh H với bà T, G chưa có hành vi gì về việc cưỡng đoạt tài sản của anh H. Đêm 19/5/2025, G chở anh H đến nhà mình để biết các hóa đơn chi phí gia đình đã bỏ ra để lo cho bà T sau khi anh H gây ra tai nạn để chứng minh việc anh H phải có trách nhiệm thanh toán cho bà T các chi phí sau khi đã gây ra tai nạn cho bà T. Người bị hại anh H có hành vi trái quy định của pháp luật là sau khi gây tai nạn cho bà T mà không có trách nhiệm thăm hỏi, bồi thường thiệt hại cho bà T.
Ngoài các tình tiết mà vị đại diện Viện kiểm sát và vị Luật sư M đã đề nghị Luật sư Lương xin đề nghị áp dụng thêm tình tiết theo điểm e khoản 1 Điều 31 Bộ luật hình sự phạm tội đối với người có hành vi trái quy định của pháp luật, áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự bị cáo phạm tội nhưng số tiền không lớn, áp dụng điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự người phạm tội trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, mẹ bị bệnh ung thư, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, bị cáo đã ly hôn vợ và phải một mình nuôi 03 con còn nhỏ, áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo phạm tội có khung hình phạt từ 1-5 năm tù và có ít nhất 5 tình tiết giảm nhẹ và đủ điều kiện để xử dưới mức hình phạt nên đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo bằng thời hạn tạm giam là 07 tháng tù là phù hợp và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa hôm nay.
Bị cáo không có ý kiến gì bổ sung với tranh luận của các vị luật sư, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, xin hội đồng xét xử xem xét xem đối với hành vi như vậy thì có phạm tội không, nếu có thì xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Vị đại diện Viện kiểm sát đối đáp:
Về tội danh Luật sư cho rằng truy tố chưa thuyết phục: Kiểm sát viên đã làm rõ tại quá trình điều tra và đã thẩm vấn công khai tại phiên tòa rõ ràng ngày 09/5/2025 bị cáo đã có hành vi lời nói với người bị hại “nếu mẹ tôi bị hỏng tay thì tôi cũng lấy của anh một tay”. Thời điểm diễn ra hành vi ban ngày bị cáo đem dao đến nhà người dân, có hành vi đe dọa, có lời nói phản cảm, gây ảnh hướng đến an ninh trật tự địa phương. Về hành vi đêm ngày 19/5/2025 khi bị cáo gọi mở cửa, bị hại lịch sự nên mới mời bị cáo vào nhà và do sợ hãi nữa chứ không phải tự nguyện mời bị cáo vào nhà, trong khi đêm khuya bị cáo đến lay ổ khóa, kêu to làm ảnh hưởng đến tâm lý của bị hại.
Đối với tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Quá trình điều tra ban đầu bị cáo đã quanh co chối tội, trên cơ sở tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập bị cáo mới thay đổi lời khai cơ bản phù hợp diễn biến sự việc mà bị hại trình bày, bên cạnh đó còn một số hành vi thể hiện bản chất cấu thành tội phạm quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo vẫn không thừa nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo.
Đối với tình tiết bị hại có một phần lỗi: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên toà đã xác định ngày 05/5/2025 giữa bị hại Trần Xuân H và bà Cao Thị T xảy ra va chạm tai nạn giao thông, đồng thời hai bên đã thống nhất giải quyết về mặt dân sự. Do đó, anh H chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự theo thoả thuận với bà T cũng như làm việc qua các kênh pháp lý của Nhà nước chứ không phải thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có lỗi với bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với bị cáo.
Tình tiết người phạm tội do hành vi trái pháp luật của bị hại gây nên: Bị hại không có hành vi gì trái quy định của pháp luật, vì bị hại có hoàn cảnh khó khăn nên chưa kịp bồi thường cho bà T, bị hại đã đem bà T đi khám tại bệnh viên, đã đến nhà thăm hỏi bà T.
Tình tiết bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn: Đối với người bị hại anh H là người bị bệnh, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị hại không có tài sản gì giá trị, các lần bồi thường cho bà Thành bị hại phải đi vay mượn của người quen mới có nên số tiền 3.700.000 đồng đối với hoàn cảnh của bị hại là số tiền lớn.
Tình tiết gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn là không đúng mà chỉ đề nghị xem xét gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn như: hộ cận nghèo, mẹ bị bệnh ung thư, 3 con còn nhỏ.
Bị cáo là lao động chính trong gia đình là không phù hợp: Bị cáo sống chung với hộ gia đình bà Cao Thị T, mọi sinh hoạt trong gia đình không phải do bị cáo lao động mà có.
Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự thì Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng cho bị cáo.
Đề nghị áp dụng Điều 54 xử phạt bị cáo mức án phạt dưới khung: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt tương xứng và không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm đã trình bày, không có gì thay đổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cơ bản thừa nhận toàn bộ diễn biến hành vi của mình, bị cáo nhận thức rằng các hành vi mà mình đã thực hiện là do nóng giận, bức xúc để đòi quyền lợi của mẹ bị cáo do va chạm giao thông với bị hại, việc bị hại đưa tiền cho bị cáo là tự nguyện để bồi thường chi phí khám, chữa các vết thương cho mẹ bị cáo, do bị hại đã gây ra tai nạn cho mẹ của bị cáo nên bị cáo đòi tiền chứ không phải là hành vi phạm tội. Trong quá trình hỏi cung bị cáo thừa nhận đều được tự nguyện khai báo, không bị bức cung, mớm cung hay nhục hình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, các lời khai và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Xuất phát từ việc va chạm giao thông giữa bị hại và mẹ bị cáo, nên bị cáo đã có hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần bị hại 02 lần để chiếm đoạt tài sản, cụ thể: Ngày 09/5/2025 bị cáo đến nơi làm của bị hại chửi bới, dùng dao đe dọa ép buộc bị hại và bị hại đã đưa cho bị cáo 1.000.000 đồng; Tối ngày 19/5/2025 rạng sáng ngày 20/5/2025, bị cáo đến nhà bị hại đe dọa, uy hiếp bị hại phải đến nhà mình, sau đó buộc bị hại để lại tài sản. Sau khi chở bị hại về, bị cáo tiếp tục dùng lời nói đe dọa, buộc bị hại phải đưa tiếp cho bị cáo 2.700.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 3.700.000 đồng.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các chứng cứ, lời khai thu thập được đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, kết hợp với lời khai của bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo đã dùng các thủ đoạn, uy hiếp tinh thần đối với bị hại và đã 02 lần chiếm đoạt tiền của bị hại, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự. Số tiền phạm tội, bị cáo đã đưa cho mẹ một phần và một phần giữ lại chi tiêu cá nhân. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không oan sai. Bản cáo trạng số 09/CT-VKS-KV3 ngày 31 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn chính xác. Tại phiên tòa lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá đầy đủ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Các đối đáp tranh luận với các vị Luật sư về cơ bản là đúng. Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề khác về cơ bản là phù hợp.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và ngăn chặn, phòng ngừa chung. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù, xử lý hành chính nhiều lần, trong đó có lần đã bị xử phạt tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” nhưng vẫn không chịu sửa chữa sai lầm, lấy đó làm những bài học, cảnh tỉnh bản thân, làm người lương thiện mà lại phạm tội. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo chưa nhận thức được hành vi của mình là phạm tội, tại phiên tòa hôm nay sau khi được chủ tọa giải thích, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về các hành vi của mình, chấp nhận bồi thường đầy đủ cho bị hại số tiền mà mẹ của bị cáo đã thay bị cáo bồi thường, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là hộ cận nghèo, mẹ bị cáo bị bệnh ung thư, bị cáo đang phải nuôi 3 con nhỏ. Tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Ngoài hình phạt chính là phạt tù, Hội đồng xét xử xét thấy lẽ ra cần áp dụng xử phạt hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo thì mới đủ nghiêm. Tuy nhiên xét bị cáo là hộ cận nghèo, không có công việc ổn định. Vì vậy, không xử phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về phần dân sự: Bà T mẹ của bị cáo đã thay bị cáo nộp số tiền 3.700.000 đồng tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Tĩnh để thực hiện việc bồi thường cho bị hại. Vì vậy, bị hại được quyền nhận lại số tiền này.
[7] Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng các quy định của pháp luật xử lý số vật chứng đang có tại cơ quan thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Tĩnh đúng theo quy định của pháp luật. Cụ thể xét thấy: 01 nhẫn bằng kim loại màu sáng bạc, mặt nhẫn đính đá; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: A1779, màu vàng, màn hình bị rạn vỡ, có gắn thẻ sim seri 8984 0480 0092 0713 865, không lên nguồn. Không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với các vật chứng gồm: 01 chìa khóa (loại chìa khóa còng số 8) bằng kim loại màu bạc; 01 con dao dài 37 cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 25,5 cm, phần rộng nhất 3,5 cm, có một mặt sắc, lưỡi dao bị hoen gỉ, mũi dao nhọn; phần cán dao bằng kim loại dài 11,5 cm, phần rộng nhất rộng 04 cm, được cuốn băng dính màu đen; Vỏ dao bằng gỗ kích thước 26,5 x 06 cm, được cuốn băng dính màu đen cần tịch thu tiêu hủy; 01 xe mô tô biển kiểm soát 38F1-101.34, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Janus, số máy E3Y8E142887, số khung: RLCSEC820LY142880, đã qua sử dụng, mang tên Bùi Thị Huyền T1 (sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú tổ dân phố G, phường N, tỉnh Hà Tĩnh - vợ cũ của bị cáo). Đây là tài sản mà bị cáo đã sử dụng trong quá trình thực hiện tội phạm nhưng là tài sản chung của bị cáo và vợ cũ, vì vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước ½ chiếc xe này.
[8] Về án phí: Bị cáo là hộ cận nghèo nên căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này quá trình bị cáo tìm gặp anh H để đe dọa, uy hiếp tinh thần chiếm đoạt số tiền 3.700.000 đồng, bà T không biết. Đồng thời, khi bà T nhận số tiền 2.700.000 đồng từ bị cáo cũng không biết đó là tiền do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xem xét xử lý là đúng. Đồng thời bà T đã nộp lại số tiền mà bị cáo chiếm đoạt cũng như bà T thu lợi bất chính nên không xem xét trách nhiệm truy thu.
Đối với con dao là hung khí bị cáo sử dụng để đe dọa anh H chiếm đoạt số tiền 1.000.000 đồng vào ngày 09/5/2025 tại nhà của anh Lê Trọng V, nhưng bị cáo chưa sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe của anh H nên không xem xét xử lý về hành vi “Sử dụng vũ khí quân dụng”.
Đối với hành vi dùng vũ lực, gây thương tích cho anh H vào đêm ngày 19/5/2025, rạng sáng ngày 20/5/2025 tại nhà của bị cáo, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không chứng minh được, cũng không thu giữ được các đồ vật, tài liệu có liên quan. Do đó, không đủ cơ sở kết luận hành vi dùng vũ lực, gây thương tích của bị cáo đối với bị hại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; Điều 38; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Trường G 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian thi hành án tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/5/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm công tác thi hành án.
Về dân sự: Bị hại được quyền làm đơn nhận lại số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu, bảy trăm nghìn đồng) đang có tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Tĩnh theo biên lai thu tiền số 0000301 ngày 23/10/2025.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: ½ xe mô tô biển kiểm soát 38F1-101.34, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Janus, số máy E3Y8E142887, số khung: RLCSEC820LY142880, đã qua sử dụng. Trả lại cho chị Bùi Thị Huyền T1 (Vợ cũ của bị cáo) ½ chiếc xe.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa (loại chìa khóa còng số 8) bằng kim loại màu bạc; 01 con dao dài 37 cm, vỏ dao bằng gỗ kích thước 26,5x06 cm, được cuốn băng dính màu đen.
Trả lại cho bị cáo: 01 nhẫn bằng kim loại màu sáng bạc, mặt nhẫn đính đá; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: A1779, màu vàng, màn hình bị rạn vỡ, có gắn thẻ sim seri 8984 0480 0092 0713 865, không lên nguồn.
Tình trạng đặc điểm cụ thể của các vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2025 giữa Cơ quan điều tra và phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà tĩnh.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đình Thông |
Bản án số 53/2025/HSST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm về tội cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 53/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội Cưỡng đạt tài sản
