Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 521/2025/DS-PT

Ngày 29 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Giang Thị Cẩm Thúy

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tân

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 344/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (nay là Toà án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau) bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 417/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N: Ông Trần Duy C, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn K: Ông Trần Quốc B, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Nay là ấp phước H, xã H, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn K: Ông Phạm Hữu H1 – Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Mỹ X, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.
  2. Ngân hàng N1. Địa chỉ: Số B, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Nay là số B L, phường G, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lý Quốc T, chức vụ: Trưởng phòng Khách hàng A Chi nhánh thị xã G Bạc Liêu. Địa chỉ liên hệ: Khóm A, phường G, tỉnh Cà Mau

  1. Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân thị xã G: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Cà Mau. Địa chỉ: Khóm B, phường L, tỉnh Cà Mau.

(Tại phiên toà: ông C, ông B, ông H1 có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và người đại diện theo uỷ quyền trình bày: Ông Nguyễn Văn T1 là cha bà Nguyễn Thị N có cho bà diện tích đất trồng lúa gồm 2 thửa đất, thửa đất số: 0332 có diện tích 4560,4m² và thửa đất số: 0349 có diện tích 3900,9m², thuộc tờ bản đồ số: 05, bà Nguyễn Thị N đã đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Nguyễn Thị N tại Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp vào năm 1995, bà N sử dụng đất được 05 năm thì cho ông Nguyễn Văn T1 mượn lại để canh tác và sử dụng, ông T1 đong gạo cho bà ăn hàng năm, và năm 2021 ông Nguyễn Văn T1 chết thì người em là Nguyễn Văn K sử dụng phần đất cho đến nay, bà Nguyễn Thị N yêu cầu ông Nguyễn Văn K có trách nhiệm trả lại cho bà 2 thửa đất trên. Đối với phản tố của ông K về việc công nhận 02 thửa đất cho Nguyễn Văn K và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Nguyễn Thị N không đồng ý.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn K và người đại diện theo uỷ quyền trình bày: Phần đất tranh chấp gồm 2 thửa đất, thửa đất số: 0332 và thửa đất: 0349 có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn T1 (cha ông Nguyễn Văn K) nhận chuyển nhượng của ông 9 É và ông 6 Đ từ năm 1990, ông Nguyễn Văn K ở chung với cha mẹ từ nhỏ nên cùng sử dụng đất từ khi chuyển nhượng cho đến khi ông T1 chết, sau khi ông T1 chết ông vẫn sử dụng đất cho đến nay, vào năm 2012 ông Nguyễn Văn K được cha là ông Nguyễn Văn T1 di chúc giao lại phần đất cho ông K, bà Nguyễn Thị N không sử dụng đất ngày nào, nhưng không biết lý do nào bà Nguyễn Thị N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông Nguyễn Văn K không đồng ý trả đất cho bà Nguyễn Thị N. Đồng thời, ông Nguyễn Văn K yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị N. Ông Nguyễn Văn K phản tố yêu cầu công nhận 02 thửa đất số: 0332 và 0349, diện tích 8461,3m² là của ông.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị xã G do người đại diện trình bày: Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị N cho đến nay chưa cơ quan nào ghi nhận sai sót.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Mỹ X trình bày: Bà thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của chồng Nguyễn Văn K, không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1 do người đại diện theo uỷ quyền trình bày: Bà Nguyễn Thị N có vay vốn tại ngân hàng N1 – Chi nhánh thị xã G và có thế chấp 02 thửa đất tranh chấp để bảo đảm khoản tiền vay. Do dư nợ vay đang trong quá trình thực hiện nên ngân hàng không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.

Từ nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau) đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc đòi ông Nguyễn Văn K trả lại quyền sử dụng đất.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị X giao trả cho bà Nguyễn Thị N phần đất tại Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

    + Thửa đất số: 0332, tờ bản đồ số: 05, có diện tích 4560,4m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số: 172, tờ bản đồ số: 06 (bản đồ 2007) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị N, theo vị trí:

    • Hướng Đông giáp đất K1 (thửa 339) cạnh dài 59,03 + 10,83
    • Hướng Tây giáp đất của Nguyễn Văn K (thửa 333) cạnh dài 54,60
    • Hướng Nam giáp đất Thống (thửa 337) cạnh dài 37,21 + 30,31 + 4,61
    • Hướng Bắc giáp đất Lê Văn H2 (thửa 331) cạnh dài 74,93

    + Thửa đất số: 0349, tờ bản đồ số: 05, có diện tích 3900,9m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số: 246, tờ bản đồ số: 06 (bản đồ 2007) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị N, theo vị trí:

    • Hướng Đông giáp đất Nguyễn Tấn L (thửa 340) cạnh dài 45,55
    • Hướng Tây giáp đất Nguyễn Tấn L (thửa 353) cạnh dài 45,85
    • Hướng Nam giáp Huỳnh Thị P (thửa 350) cạnh dài 87,53
    • Hướng Bắc giáp Trần Văn P1 (Trần Văn T2) (thửa 347) cạnh dài 84,36
  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn K về công nhận quyền sử dụng đất gồm: Thửa đất số: 0332, tờ bản đồ số: 05, có diện tích 4560,4m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số: 172, tờ bản đồ số: 06 (bản đồ 2007) và thửa đất số: 0349, tờ bản đồ số: 05, có diện tích 3900,9m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số: 246, tờ bản đồ số: 06 (bản đồ 2007)
  4. Không chấp yêu cầu của ông Nguyễn Văn K về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị N.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07 tháng 7 năm 2025, bị đơn ông Nguyễn Văn K kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai; yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ Bản án sơ thẩm và chấp nhận phản tố của bị đơn.

Ngày 14 tháng 7 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau kháng nghị toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm dân sự số 75/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau) theo hướng huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Toà án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày tranh luận: Nguyên đơn trình bày đất được cha mẹ cho nhưng không có chứng cứ chứng minh. Về quá trình quản lý, sử dụng thì có lời khai không thống nhất, lúc thì khai sử dụng 05 năm, lúc thì khai giao đất ngay khi được cấp quyền sử dụng đất. Nguyên đơn không chứng minh được sự việc cho ông T1 mượn đất, không chứng minh được sự việc ông T1 đong lúa lại cho bà N hằng năm. Do đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là không đúng đối tượng. Bị đơn đã chứng minh được có quá trình quản lý, sử dung đất lâu dài nên có căn cứ chấp nhận phản tố của bị đơn. Tuy nhiên, do Bản án sơ thẩm có kháng nghị của Viện kiểm sát đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về cấp khu vực giải quyết lại và việc bị đơn yêu cầu công nhận đất cho bị đơn có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của những người cùng hàng thừa kế nên đề nghị Hội đồng xét xử huỷ Bán án sơ thẩm chuyển hồ sơ về cấp khu vực giải quyết lại theo thẩm quyền.

- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn thống nhất với đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, không bổ sung.

- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày tranh luận: Nguyên đơn đã chứng minh được nguồn gốc đất, quá trình quản lý, sử dụng đất, việc nguyên đơn được cấp quyền sử dụng đất là đúng quy định, đúng đối tượng nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đối với phản tố của bị đơn là không phù hợp, không có căn cứ. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

- Viện kiểm sát có thay đổi kháng nghị, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa một phần Bản dân sự sơ thẩm số 75/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau) theo hướng không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, không chấp nhận phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Xét đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn K nộp trong thời hạn luật định và đã dự nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau ban hành trong hạn luật định. Căn cứ vào các Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường L, Ngân hàng N1, bà Lê Thị Mỹ X có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn K, nhận thấy:

[2.1.1] Xét về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất: Cả nguyên đơn và bị đơn đều xác định đất là của ông Nguyễn Văn T1 (cha ruột của bà N và ông K) nhận chuyển nhượng từ ông 9 É và ông 6 Đ. Khi chuyển nhượng đất thì không lập giấy tờ chuyển nhượng, đất chưa được cấp quyền sử dụng đất. Bà N cho rằng diện tích đất tranh chấp được ông Nguyễn Văn T1 tặng cho vào năm 1995 nhưng không có giấy tặng cho đất. Bà N kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 02 thửa 332 diện tích 4.550m² được đo đạc thực tế 4.560,4m² và thửa 349 diện tích 3.900m2 được đo đạc thực tế 3.900,9m². Bà N đã nhận đất và sử dụng khoảng 05 năm thì lập gia đình, về bên chồng sống và cho ông T1 mượn canh tác, ông T1 đong lúa lại cho bà N hằng năm. Năm 2021, ông T1 chết nên ông K tiếp tục sử dụng. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu ông K trả lại đất cho bà N. Ông K không đồng ý lời trình bày của bà N và xác định đất tranh chấp là của cha mẹ chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn C1 (9 Ét) và ông Lê Văn Đ1 (6 Đức), cha mẹ đã quản lý, sử dụng đất từ khi nhận chuyển nhượng. Sau đó, mẹ ông chết và cha ông đã giao đất lại cho ông sử dụng cho đến nay. Ông không biết lý do bà N đứng tên quyền sử dụng đất, thực tế bà N không sử dụng đất mà chính ông T1 và ông sử dụng đất từ trước cho đến nay.

[2.1.2] Xét về chứng cứ: Chứng cứ của nguyên đơn là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho bà Nguyễn Thị N ngày 20/11/1995 và lời khai của bà Nguyễn Thị B1 là Bí thư chi bộ ấp A, xã P do bà Nguyễn Thị N yêu cầu xác minh. Xét hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị N ghi nhận về nguồn gốc đất là “phụ ấm, đất sang của 9 Ét + 6 Đức” nhưng hồ sơ cấp quyền sử dụng đất không có văn bản chuyển nhượng đất từ ông 9 Ét, ông 6 Đức, cũng không có văn bản ông T1 tặng cho đất bà N. Xét Biên bản xác minh đối với bà Nguyễn Thị B1 (Bút lục số 79) thể hiện: “... tôi biết chị N sử dụng đất tranh chấp từ năm 1995, chị N sử dụng đất tranh chấp này được 04 đến 05 năm, sau đó chị N để lại cho cha chị sử dụng, canh tác mỗi năm đong lúa cho chị, khi đến năm 2021 ông T1 chết thì ông Khánh dụng...”. Xét lời khai của bà Nguyễn Thị N tại biên bản hòa giải cơ sở ngày 26/3/2024 (Bút lục số 07 - 09) trình bày “...sau khi nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tôi không có canh tác quản lý sử dụng mà để cho cha ruột tôi quản lý sử dụng...”; tại bản tự khai ngày 14/02/2025 (Bút lục số 74) bà N trình bày “... do Ủy ban nhân dân huyện G cấp vào ngày 20/11/1995, nguồn gốc đất trên do cha ruột tôi tặng cho tôi vào năm 1995. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên, do điều kiện đi làm ăn xa, tôi cho cha ruột tôi là Nguyễn Văn T1 mượn canh tác và cha tôi đong gạo cho tôi ăn hàng năm……”; Tại biên bản lấy lời khai bà N ngày 12/6/2025 (Bút lục số 75) bà N trình bày “. đến năm 1997 thì gả chồng, chồng cưới về làm dâu tại ấp A, xã P, thị xã G. Sau khi gả chồng thì tôi vẫn về canh tác được 05 đến 06 năm thì đưa lại cho cha tôi mượn đất, cha làm đong gạo ăn hàng năm...”. Xét các lời khai của bà N về việc được ông Nguyễn Văn T1 tặng cho đất chỉ là lời trình bày, không có chứng cứ chứng minh; xét lời khai của bà N về quá trình quản lý, sử dụng đất trước sau không thống nhất. Ngoài lời khai của bà Nguyễn Thị Bích D bà N yêu cầu xác minh thì bà N không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh về việc có sử dụng đất, việc cho ông Nguyễn Văn T1 mượn lại đất để đong gạo hằng năm. Do đó, bị đơn xác định nguyên đơn không sử dụng đất là có cơ sở. Xét chứng cứ bị đơn ông Nguyễn Văn K cung cấp là Tờ Vi chúc của ông Nguyễn Văn T1 lập ngày 25/12/2012 (Bút lục số 81 - 88) để chứng minh cho yêu cầu phản tố của ông K. Nội dung di chúc của ông T1 thể hiện: “... Khoảng năm 1993 tôi mua của ông Nguyễn Văn C1 (9 Ét) và Lê Văn Đ1 (06 Đức) nhưng do tôi có nhiều đất không đứng tên hết nên tạm thời cho con gái là Nguyễn Thị N đứng tên kê khai cấp bằng khoán năm 1995. Từ năm 2000 cho đến nay tôi giao đất cho con trai là Nguyễn Văn K và chịu trách nhiệm phụng dưỡng gia đình, đã thế chấp phần đất này cho Ngân hàng Nông nghiệp để vay vốn cho con gái Nguyễn Thị N làm ăn....”. Như vậy, từ nội dung di chúc đã thể hiện ông T1 chỉ cho bà N đứng tên dùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đất thì ông T1 quản lý, sử dụng và ông T1 đã giao đất lại cho ông K sử dụng từ năm 2000 đến khi lập di chúc và cho đến nay. Từ những căn cứ nêu trên cho thấy, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N cho rằng ông Nguyễn Văn T1 đã tặng cho đất bà N là không có căn cứ, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn giao đất nguyên đơn là chưa phù hợp. Mặt khác, xét chứng cứ bị đơn đưa ra để chứng minh cho yêu cầu phản tố của bị đơn cho thấy: tại thời điểm ông T1 viết di chúc (ngày 25/12/2012) thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà N đang thế chấp vay vốn tại Ngân hàng. Mặt khác, tại thời điểm ông T1 lập di chúc vào ngày 25/12/2012 thì đất tranh chấp do bà Nguyễn Thị N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bà Nguyễn Thị B2 là vợ ông T1 đã chết năm 2001, không có di chúc nên thời hiệu chia thừa kế theo pháp luật vẫn còn. Cho nên đất tranh chấp không phải của cá nhân ông T1 nên ông T1 không có quyền định đoạt toàn bộ tài sản để tặng cho diện tích đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn K. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận phản tố của bị đơn là phù hợp. Tuy nhiên, như phân tích ở trên thì có căn cứ xác định đất tranh chấp là của ông T1, bà B2 mà 2 người đã chết nên các bên đương sự vẫn có quyền khởi kiện thành vụ kiện độc lập khác về chia thừa kế di sản khi cần thiết.

[2.2] Xét việc thay đổi nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát, nhận thấy:

Tại kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 14/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau đề nghị huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau) nay thay đổi nội dung kháng nghị, đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn. Xét việc thay đổi nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nằm trong phạm vi kháng nghị ban đầu nên được xem xét theo quy định.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát có nội dung như kháng cáo của bị đơn, đã được phân tích ở trên nên có căn cứ để chấp nhận.

[3] Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn K; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau).

[4] Về chi phí tố tụng: Do sửa một phần bản án sơ thẩm, không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn nên sửa lại về chi phí tố tụng cho phù hợp với quy định pháp luật. Nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng số tiền 16.720.000 đồng, bà Nguyễn Thị N đã dự nộp xong.

[5] Về án phí sơ thẩm không giá ngạch: Cấp sơ thẩm không chấp nhận phản tố của bị đơn nhưng không giải quyết số tiền tạm ứng án phí của bị đơn đã dự nộp là thiếu sót nên cần rút kinh nghiệm. Do sửa án sơ thẩm về không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu án phí không giá ngạch 300.000 đồng. Bị đơn phải chịu đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 300.000 đồng.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn K không phải chịu, ông K đã dự nộp 300.000 đồng nên được hoàn lại đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn K. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau).

Căn cứ khoản 2, khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn K trả lại quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 0332, tờ bản đồ số 05, có diện tích 4560,4m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số 172, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 2007) và thửa đất số 0349, tờ bản đồ số 05, có diện tích 3900,9m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số 246, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 2007), vị trí, số đo đất như sau:
    • - Thửa đất số 0332, tờ bản đồ số 05, có diện tích 4560,4m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số 172, tờ bản đồ số: 06 (bản đồ 2007):
      • Hướng Đông giáp đất K1 (thửa 339) cạnh dài 59,03 + 10,83
      • Hướng Tây giáp đất của Nguyễn Văn K (thửa 333) cạnh dài 54,60
      • Hướng Nam giáp đất Thống (thửa 337) cạnh dài 37,21 + 30,31 + 4,61
      • Hướng Bắc giáp đất Lê Văn H2 (thửa 331) cạnh dài 74,93
    • - Thửa đất số 0349, tờ bản đồ số 05, có diện tích 3900,9m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số 246, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 2007):
      • Hướng Đông giáp đất Nguyễn Tấn L (thửa 340) cạnh dài 45,55
      • Hướng Tây giáp đất Nguyễn Tấn L (thửa 353) cạnh dài 45,85
      • Hướng Nam giáp Huỳnh Thị P (thửa 350) cạnh dài 87,53
      • Hướng Bắc giáp Trần Văn P1 (Trần Văn T2) (thửa 347) cạnh dài 84,36
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn K về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 20/11/1995 cho bà Nguyễn Thị N đối với 02 thửa đất số 0332, tờ bản đồ số 05, có diện tích 4560,4m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số 172, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 2007) và thửa đất số 0349, tờ bản đồ số 05, có diện tích 3900,9m² (bản đồ 299) hiện nay thửa đất số 246, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 2007), đất toạ lạc tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau).
  3. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 16.720.000 đồng; bà Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ, bà N đã dự nộp đủ và chi xong.
  4. Về án phí:
    1. Án phí sơ thẩm không giá ngạch:
      • - Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng; bà N đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ngày 13/02/2025 theo Biên lai thu số 0005187 của Chi CụcThi hành án dân sự thị xã G (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cà Mau) được chuyển thu án phí.
      • - Ông Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 đồng, ông K đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ngày 17/6/2025 theo Biên lai thu số 0005623 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cà Mau) được chuyển thu án phí.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Văn K không phải chịu 300.000 đồng, ông K đã dự nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0011596 ngày 14/7/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cà Mau được hoàn lại đủ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau;
  • - Phòng THADS Khu vực 8 - Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giang Thị Cẩm Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 521/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Số bản án: 521/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nhi - Khánh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger