Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 518/2025/DS-PT

Ngày: 26/12/2025

Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều

Các Thẩm phán: Ông Bùi Anh Tuấn

Ông Nguyễn A Đam

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: số 411/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS- ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 449/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Nay là ấp L, xã A, tỉnh Cà Mau).

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Chị Nguyễn Tố N, sinh năm 1995; Địa chỉ: Hẻm T, Huỳnh Thúc K, khóm H, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nay là Đường H, khóm I, phường H, tỉnh Cà Mau). (Có mặt)

Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1963;

Bà Nguyễn Hồng P, sinh năm 1963;

Cùng địa chỉ: ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (Nay là ấp L, xã A, tỉnh Cà Mau).

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Chị Quách Ngọc L, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số A, đường N, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Võ Thị O, sinh năm 1978; Địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (Nay là ấp C, xã Đ, tỉnh Cà Mau). (Không triệu tập)

2. Ủy ban nhân dân xã A:

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Minh P1, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp B, xã A, tỉnh Cà Mau. (Không triệu tập)

- Người kháng cáo: Ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P là bị đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 02/12/2023 cùng các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Khoảng năm 1992 ông Nguyễn Văn C là cha ông Nguyễn Văn Đ có nhận chuyển nhượng của ông Bùi Văn T, bà Nguyễn Thị P2 phần đất 15 công tầm lớn toạ lạc tại ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, phần đất bao gồm phần đường nước hiện đang tranh chấp. Đồng thời ông C đổi với ông Theo bà P2 phần đất 05 công tầm lớn tại nơi khác để nhận 05 công tầm lớn giáp phần đất nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp không nằm trong phần đất đổi. Khi ông C nhận chuyển nhượng đất của ông T thì không rõ đã làm thủ tục sang tên hay chưa. Sau khi nhận chuyển nhượng năm 1992 ông C sử dụng phần đất đến khoảng năm 2007, ông C tặng cho lại ông Đ phần đất diện tích 14.044,5 m² thuộc 20 công tầm lớn trên và ông Đ quản lý sử dụng và đến năm 2010 ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đến khoảng tháng 04/2021 ông T lắp đường nước lại không cho ông Đ sử dụng (lúc đó do dịch bệnh nên ông Đ không đến phần đất và ông Đ đi làm ăn xa không có ở nhà nên không biết) và sau đó ông Đ biết và hai bên phát sinh tranh chấp đến nay.

Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu ông T và bà P2 giao trả phần đường nước diện tích 408,8m² tại thửa số 19, 20, tờ bản đồ số 61.

Tại đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu ông Bùi Văn T, bà Nguyễn Hồng P giao trả phần đất diện tích 537m². Nay rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu 408,8m² và ông Nguyễn Văn Đ xin rút lại yêu cầu ông T, bà P giao trả số tiền 7.000.000đ công đào đường thoát nước (khôi phục lại hiện trạng ban đầu).

Ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P trình bày: Vào năm 1993 có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C 10 công đất (1.296 m²/công). Trong cùng năm, ông bà chuyển nhượng thêm 05 công và đổi 05 công. Vì đổi 05 công đất của ông C nên ông bà mới cho ông C mượn thêm phần đường nước (là phần đất hiện đang tranh chấp), phần tranh chấp là đường thoát nước này ông bà không chuyển nhượng cho ông C. Khi chuyển nhượng đất có làm giấy viết tay do ông C giữ, ông bà không cất giữ. Đến năm 2004 thì ông bà có làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C đối với 20 công chuyển nhượng và đổi. Đối với phần đường nước hiện đang tranh chấp thì ông bà không có làm thủ tục sang tên vì đây là phần đất vợ chồng ông bà cho mượn.

Đến năm 2021 ông bà xác định ông C gửi đơn đến Ban N1 sau này rút và đã trả phần đường nước nên ông bà đã đắp lại đường thoát nước có sự chứng kiến của ông Huỳnh Văn X trưởng ấp và ông Đ không có ngăn cản. Khi đó ông C đã giao trả phần đất này cho ông bà. Đến năm 2023 ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khởi kiện đến Toà án.

Nay ông bà xác định phần đất này của ông bà và không đồng ý giao trả theo yêu cầu của ông Đ. Ông bà yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ đối với phần diện tích 408.8m² thuộc một phần thửa số 19, 20 tờ bản đồ số 21 đất toạ lạc tại ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 01/7/2024 bà Nguyễn Thị O1 trình bày không có ý kiến yêu cầu gì đối với phần đất tranh chấp.

Đại diện Ủy ban nhân dân huyện Đ trình bày: Hộ Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị O1 tại thửa số 19, 20 tờ bản đồ số 61 là đúng theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS- ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ đối với ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P về việc yêu cầu giao trả phần đất diện tích 408,8m2, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị O1, đất tọa lạc tại ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, được chia thành 02 phần:

  • * Phần đất thứ nhất: Diện tích 269,9m² tại thửa số 20, tờ bản đồ số 61:
    • - Cạnh hướng Đông giáp kênh H, cạnh dài 6,86m;
    • - Cạnh hướng Tây giáp đường bê tông, cành dài 9,40m;
    • - Cạnh hướng Nam giáp phần đất của ông Võ Văn C1, cạnh dài 29,94m + 3,09m;
    • - Cạnh hướng Bắc giáp đất ông Bùi Văn T, cạnh dài 31,38m + 5,07m.
  • * Phần đất thứ hai: Diện tích 138,9m² tại thửa số 19, tờ bản đồ số 61:
    • - Cạnh hướng Đông giáp đường bê tông, cạnh dài 10,24m;
    • - Cạnh hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Văn Đ, cành dài 11,94m;
    • - Cạnh hướng Nam giáp phần đất của ông Thái Văn H, cạnh dài 9,94m + 4,23m;
    • - Cạnh hướng Bắc giáp đất ông Bùi Văn T, cạnh dài 8,38m + 2,90m.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ, yêu cầu ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P giao trả số tiền công đào đường thoát nước (khôi phục lại hiện trạng ban đầu) 7.000.000đ.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ, yêu cầu ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P giao trả phần đất diện tích 128,2m².

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 11 tháng 8 năm 2025, bị đơn là ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P kháng cáo toàn bộ bản án của cấp sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm bác đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS- ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Kháng cáo của ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo của ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]Căn cứ vào kết quả thẩm định ngày 06/3/2024 và hiện trạng đất tranh chấp có diện tích 408,8m² hiện trạng đất là đường kênh xổ nước.

[2.2] Về nguồn gốc đất nguyên đơn cho rằng cha ông là ông Nguyễn Văn C nhận chuyển nhượng của vợ chồng bị đơn vào năm 1992, sau khi nhận chuyển nhượng ông C sử dụng và sau đó cho lại vợ chồng nguyên đơn sử dụng cho đến năm 2021 thì bị gia đình bị đơn ngăn cản, không cho sử dụng nên phát sinh tranh chấp.

[2.3] Về quá trình sử dụng đất cả nguyên đơn và bị đơn thống nhất xác định gia đình nguyên đơn sử dụng từ năm 1992. Tuy nhiên, bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp gia đình bị đơn không có chuyển nhượng cho ông C, mà cho ông C mượn. Phía nguyên đơn không thừa nhận, bị đơn không chứng minh được sự việc cho ông C là cha nguyên đơn mượn đất. Hơn nữa, phần đất tranh chấp gia đình nguyên đơn đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất tại các thửa 19 và 20 tờ bản đồ 61 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ và và Phạm Thị O2 vào năm 2008.

[2.4] Tại Công văn số 1373 ngày 25/3/2025 Ủy ban nhân dân huyện Đ xác định: Về trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn Đ và và Phạm Thị O2 tại các thửa 19 và 20 tờ bản đồ 61 là đúng quy định pháp luật tại thời điểm cấp.

[2.5] Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thẩm định lại toàn bộ các phần đất mà bị đơn với ông C đã thực hiện giao dịch chuyển đổi và chuyển nhượng để làm căn cứ giải quyết vụ án. Đồng thời yêu cầu tiến hành xác minh những người làm chứng như ông Huỳnh Văn X, là trưởng ấp lung lá, vì cho rằng ông X có nghe ông T trình báo sự việc ông C thỏa thuận chuyển nhượng thêm phần đất đang tranh chấp hiện nay; và tiến hành xác minh đoàn khảo sát lộ gồm: ông Trần Văn D, ông Ngô Văn T1, ông Cao Văn D1, ông Nguyễn Văn C2, vì cho rằng khi những người này đến khảo sát có yêu cầu ông T gia cố lại cống xổ nước. Xét thấy, yêu cầu của người đại diện của bị đơn là không cần thiết vì tại thời điểm khảo sát để làm lộ thì ông T đã tự ý lấp cống, nên đoàn đo đạc yêu cầu ông T gia cố cống. Hơn nữa, bị đơn cho rằng cho nguyên đơn mượn đất nhưng không có giấy tờ, tài liệu chứng minh nên cho dù có thẩm định lại đất tranh chấp hay xác minh thêm cũng không có căn cứ xác định đất tranh chấp gia đình bị đơn cho gia đình nguyên đơn mượn.

[2.6] Từ những phân tích nêu trên, Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dâ huyện Đông Hải H1 đã cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị O2 là phù hợp quy định của pháp luật. Cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

[3] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được chấp nhận.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS- ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ đối với ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P về việc yêu cầu giao trả quyền sử dụng đất diện tích 408,8m², được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị O1, đất tọa lạc tại ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Buộc ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P giao trả quyền sử dụng đất diện tích 408,8m² nêu trên; được chia thành 02 phần:
    • * Phần đất thứ nhất: Diện tích 269,9m² tại thửa số 20, tờ bản đồ số 61:
      • - Cạnh hướng Đông giáp kênh H, cạnh dài 6,86m;
      • - Cạnh hướng Tây giáp đường bê tông, cành dài 9,40m;
      • - Cạnh hướng Nam giáp phần đất của ông Võ Văn C1, cạnh dài 29,94m + 3,09m;
      • - Cạnh hướng Bắc giáp đất ông Bùi Văn T, cạnh dài 31,38m + 5,07m.
    • * Phần đất thứ hai: Diện tích 138,9m² tại thửa số 19, tờ bản đồ số 61:
      • - Cạnh hướng Đông giáp đường bê tông, cạnh dài 10,24m;
      • - Cạnh hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Văn Đ, cành dài 11,94m;
      • - Cạnh hướng Nam giáp phần đất của ông Thái Văn H, cạnh dài 9,94m + 4,23m;
      • - Cạnh hướng Bắc giáp đất ông Bùi Văn T, cạnh dài 8,38m + 2,90m.
  3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ, về việc đòi ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P giao trả phần đất diện tích 128,2m².
  4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ, yêu cầu ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P giao trả số tiền công đào đường thoát nước (khôi phục lại hiện trạng ban đầu) 7.000.000₫.
  5. Chi phí tố tụng:
    1. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, bản vẽ số tiền 2.469.782 đồng. Ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P phải chịu toàn bộ. ông Nguyễn Văn Đ nộp tạm ứng 2.469.782 đồng
    2. Buộc ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P phải nộp 2.469.782 đồng, để giao trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 2.469.782 đồng.
  6. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      1. Ông Nguyễn Văn Đ không phải chịu. Ông Nguyễn Văn Đ đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0009820 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Cà Mau) được hoàn lại đủ.
      2. Ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định.
    2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Hồng P là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định
  7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau;
  • - Phòng THADS Khu vực 8 – Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lệ Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 518/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 518/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger