|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2025/HS - ST Ngày: 24-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Trường Ca.
- Ông Nguyễn Văn Thành.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Tiến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phùng Văn Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Thị V, tên gọi khác: không; sinh ngày 14 tháng 01 năm 1995 tại xã G, thành phố Hải Phòng.
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần Xuân X và bà Nguyễn Thị L; chồng là Trần Văn T và có 03 con; tiền sự: không; tiền án:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 20-02-2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xử phạt 06 năm 03 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đánh bạc.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2022/HS-ST ngày 03-11-2022 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ xử phạt 30 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2022/HS-ST ngày 28-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc xử phạt 36 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2022/HS-ST ngày 23-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang xử phạt 25 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 07-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt 35 tháng tù. Bản án hình sự phúc thẩm số 119/2022/HS-PT ngày 07-11-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm giảm mức hình phạt, xử phạt 30 tháng tù.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Hoàng Thị A, sinh năm 1942; địa chỉ: Thôn M, xã N, thành phố Hải Phòng (vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1972 và bà Ứng Thị N, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn L, xã N, thành phố Hải Phòng (vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 11-8-2025 do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Thị V đi bộ từ nhà nghỉ M ở thôn L đến thôn M đều thuộc xã N, thành phố Hải Phòng với mục đích tìm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi V đi đến nhà bà Hoàng Thị A quan sát không có người nên V đã lén lút đi vào bên trong nhà. Tại khu vực gian giữa nhà V nhìn thấy một chiếc tủ gỗ, trên mặt tủ để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi, màu xanh.V đi đến mở cánh tủ thì bên trong có 01 chiếc ví bên trong có số tiền 1.000.000 đồng. V đã trộm cắp chiếc điện thoại và số tiền trên rồi đi bộ quay lại nhà nghỉ M. V đã đặt lại chiếc điện thoại đã trộm cắp được cho ông Lê Văn T1 (là chủ nhà nghỉ M) làm tin để vay số tiền là 2.500.000đồng. Toàn bộ số tiền 3.500.000 đồng trên V đã trả tiền nhà nghỉ và tiêu xài cá nhân hết.
Tại kết luận định giá số 165/KL-HĐĐGTS ngày 24-9-2025 của Hội đồng định giá tài sản - UBND thành phố H kết luận: 01 điện thoại di động đã qua sử dụng mua mới vào năm 2024, nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi 12C, màu xanh, số IMEI 1: 864300067220128, số IMEI 2: 864300067220136 có gắn sim số 037.800.6367 ngày 11-8-2025 có giá 1.270.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 02-12-2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trần Thị V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu. Bị cáo khai do cần tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật do mình gây ra và vô cùng ân hận. Tuy nhiên bị cáo không có nghề nghiệp công việc ổn định phải nuôi 3 con nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 48, điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 463, 466, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.Tuyên bố bị cáo Trần Thị V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Thị V từ 08 tháng đến 11 tháng tù tính từ ngày bắt thi hành án. Tổng hợp với hình phạt 16 năm 04 tháng tù theo Quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án số 04/2023/QĐ-CA ngày 11-12-2023 của Chánh án Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Thị V bồi thường cho bị hại bà Hoàng Thị A số tiền 1.000.000 đồng, hoàn trả cho ông Lê Văn T1 số tiền đã vay 2.500.000 đồng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra công an thành phố H, điều tra viên, viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng, kiểm sát viên thu thập, những người tham gia tố tụng cung cấp; hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo Trần Thị V tại phiên toà phù hợp với lời khai, biên bản ghi lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 11-8-2025 tại thôn M, xã N, thành phố Hải Phòng, Trần Thị V lợi dụng sơ hở, đột nhập vào nhà bà Hoàng Thị A lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Redmi 12C màu xanh trị giá 1.270.000 đồng và số tiền 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.270.000 đồng.
Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết về pháp luật và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã cố ý chiếm đoạt tài sản của bị hại của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để lấy tiền chi tiêu các nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Đây là những khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
[3].Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên phải phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4].Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về nhân thân: Bị cáo nhiều lần bị kết án, nhân thân xấu.
Bị cáo có hành vi lén lút nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại thể hiện sự coi thường pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đảm bảo mục đích trừng trị răn đe phòng ngừa tội phạm.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt tài sản chưa trả lại cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do vậy xét cần phải buộc bị cáo Trần Thị V có nghĩa vụ trả cho bà Hoàng Thị A số tiền 1.000.000đ; trả cho ông Lê Văn T1 và bà Ứng T2 số tiền 2.500.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7]. Về xử lý vật chứng: Đối 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi 12C do bị cáo chiếm đoạt, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là đúng theo quy định của pháp luật .
[8]. Đối với ông Lê Văn T1 khi được bị cáo V để lại chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi để vay số tiền 2.500.000 đồng. Ông T1 không biết chiếc điện thoại trên là tài sản do V trộm cắp mà có nên không đặt ra vấn đề xử lý.
[9]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000đán phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48, điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 463, 466, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của ủy ban thường vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị V phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị V 15 (mười lăm) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 16 (mười sáu) năm 04 (bốn) tháng tù theo Quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án số 04/2023/QĐ-CA ngày 11-12-2023 của Chánh án Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 17 (mười bảy) năm 7 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Thị V có nghĩa vụ trả cho bà Hoàng Thị A; địa chỉ: Thôn M, xã N, thành phố Hải Phòng số tiền 1.000.000đ; trả cho ông Lê Văn T1 và bà Ứng Thị N; địa chỉ: Thôn L, xã N, thành phố Hải Phòng số tiền 2.500.000₫
Về án phí: Bị cáo Trần Thị V phải nộp 200.00₫ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bà Hoàng Thị A; ông Lê Văn T1 và bà Ứng Thị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Trần Thị V không chịu thi hành khoản tiền nêu trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hằng |
Bản án số 51/2025/HS - ST ngày 24/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HẢI PHÒNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 51/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 11-8-2025 tại thôn Miếu Lãng, xã Nam S, thành phố Hải Phòng, Trần Thị V lợi dụng sơ hở, đột nhập vào nhà bà Hoàng Thị A lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Redmi 12C màu xanh trị giá 1.270.000 đồng và số tiền 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.270.000 đồng.
