TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2026/HS-PT Ngày 20 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Đắc Minh |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa |
| Ông Trần Ngọc Tuấn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 466/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Văn T do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:
Bị cáo: Phạm Văn T
(tên gọi khác: Không có), sinh ngày 01/01/1972 tại tỉnh Tây Ninh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh (nay là phường G, tỉnh Tây Ninh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ: 09/12; cha tên Phạm Văn Đ1, sinh năm 1929 (đã chết); mẹ tên: Trương Thị N, sinh năm 1932 (đã chết); A, chị ruột: 03 người, lớn nhất sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1970; Vợ: Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1977 (không đăng ký kết hôn và Tòa án đã tuyên bố không công nhận vợ chồng); Con: 01 người, sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo Phạm Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2025 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Phạm Văn T: Ông Nguyễn Hồng N1 – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
(Ngoài ra, trong vụ án có những người bị hại không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2000, Phạm Văn T sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thanh T1 có 01 người con chung, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, bà T1 chuyển đến sống cùng em ruột là ông Nguyễn Trung H tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (nay là phường G, tỉnh Tây Ninh). Trong thời gian này, T thường xuyên đến gặp bà T1 và kêu bà T1 về sống chung nhưng bà T1 không đồng ý, T nảy sinh ý định giết bà T1 rồi tự sát.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/02/2025, T mua 01 can nhựa loại 5 lít, rồi mua 80.000 đồng xăng cho vào can nhựa, chuẩn bị 01 cây xà beng (bằng kim loại, hình trụ dài 67cm, đường kính 02cm), 01 cây rựa (chiều dài 57cm, lưỡi kim loại dài 25cm, rộng 4,5cm, dầy 0,3cm, một cạnh sắc, mũi bằng), 01 cây dao (dài 33cm, phần lưỡi kim loại dài 20cm), 01 ổ khóa, 01 hột quẹt, 01 cây kim loại hình trụ tròn (dài 105cm một đầu cột vải thun đã thấm xăng để làm mồi lửa), nhiều bọc nylon để chiết xăng và 01 chai thuốc trừ sâu. Khoảng 01 giờ ngày 20/02/2025, T mang theo túi bàng chứa những công cụ chuẩn bị trên, rồi điều khiển xe mô tô biển số 70H4-7258 đến nhà ông H, dựng xe bên ngoài rồi đi vào cặp hông nhà ông H. Lúc này, ông H đang ngủ cùng với vợ bà Trần Thanh V trong phòng ngủ thứ nhất, bà T1 đang ngủ tại phòng thứ hai, nghe tiếng chó sủa nên ông H mở điện thoại xem camera thấy T cầm theo túi bàng đi bên hông nhà nên ông H kêu bà V và bà T1 thức dậy. Sau khi quan sát qua camera không thấy T nữa, nghĩ là T đã về nên tất cả về phòng ngủ. Lúc này, T đi qua hông trái nhà ông H (từ ngoài nhìn vào) chiết xăng từ can nhựa ra nhiều bịch nylon cột thun lại, do chó sủa nhiều nên T mang túi bàng đi ra ngoài xe ngồi chờ.
Khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, T đi vào dùng ổ khóa, khóa ngoài cửa chính nhà ông H (do cửa sau không có chốt cài nên T không khóa), rồi đi vòng qua hông nhà ông H dùng cây xà beng đập bể kính cửa sổ phòng ngủ của bà T1 đang ngủ bên trong, ném các bọc nylon chứa xăng vào bên trong, dùng bật lửa đốt cháy vớ tẩm xăng, do vớ không cháy nên T đốt phần xăng trên cửa sổ của phòng ngủ của bà T1, thấy lửa cháy nên bà T1 thức dậy chạy ra khỏi phòng. T tiếp tục dùng xà beng đập bể kính phòng ngủ của ông H và bà V, ném các bịch nylon chứa xăng vào bên trong phòng, dùng bật lửa đốt phần xăng dính trên cửa sổ phòng của ông H, thấy lửa cháy nên ông H và bà V chạy ra khỏi phòng. Sau đó, T tiếp tục đi lên cửa chính bỏ túi bàng, đổ xăng xuống nền nhà và đốt cháy, rồi bỏ lại dao, xà beng tại hiện trường, rồi điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường. Trên đường, T lấy chai thuốc trừ sâu uống, nhưng bị nôn dính vào áo nên T cởi áo và chai thuốc trừ sâu bỏ lại.
Sau khi ông H, bà V cùng bà T1 chạy thoát ra ngoài đã báo Công an xã T và nhờ người dân chữa cháy dập tắt lửa. Khoảng 06 giờ cùng ngày, Công an đến nhà T mời làm việc, phát hiện T nằm bất tỉnh nên đưa T đến Bệnh viện Đ2 cấp cứu.
Kết luận giám định số 389/KL-KTHS ngày 11/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T:
- + Mẫu vải màu đen cột trên cọng kim loại tại vị trí số 01 (kí hiệu M1.1) gửi đến giám định có dấu vết xăng, dầu.
- + Mẫu 01 túi bàng bị cháy nham nhở, trên túi có chai nhựa, bịch nylon bị cháy biến dạng tại vị trí số 02 (kí hiệu M1.4) gửi đến giám định có dấu vết xăng, dầu.
- + Mẫu 02 bịch nylon tại vị trí số 03 (kí hiệu M) gửi đến giám định không tìm thấy dấu vết xăng, dầu.
- + Mẫu 03 bịch nylon tại vị trí số 06 (kí hiệu M1.6) gửi đến giám định có tìm thấy dấu vết xăng, dầu.
- + Mẫu chất lỏng màu vàng nhạt bên trong bình nhựa màu trắng tại vị trí số 08 (kí hiệu M1.7) gửi đến giám định có dấu vết xăng, dầu.
- + Mẫu cây, cỏ bị héo úa tại vị trí số 08 (kí hiệu M1.8) gửi đến giám định không tìm thấy dấu vết xăng, dầu.
Kết luận giám định số 624/KL-KTHS ngày 22/5/2025, của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh T, kết luận: Đoạn video có tên 6507387939769; loại file: MP4; dung lượng 12.6 MB; thời gian ghi hình hiển thị video từ "02 -19-25 Wed 19:26:07 đến 02-19-25 W 19:28:21", mã MD5: 6E7E4391E3BB65B5E5DA84E7600B0EF5 không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh hay nội dung.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 24/KLTTCT-GĐYKPY ngày 14/5/2025, Trung tâm giám định y khoa - Pháp y đối với Nguyễn Thanh T1 kết luận:
- + Tại thời điểm giám định không phát hiện thương tích.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 25/KLTTCT-GĐYKPY ngày 14/5/2025 của Trung tâm giám định y khoa - Pháp y đối với Nguyễn Trung H kết luận:
- + Các vết sây sát biến đổi rối loạn sắc tố da gồm: mặt trước 1/3 dưới đùi phải và mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01%.
- + Với các thương tích trên của ông Nguyễn Trung H nếu không được cấp cứu kịp thời không có khả năng dẫn đến tử vong.
Kết luận định giá tài sản số 31/KL- HĐĐGTS ngày 06/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh, kết luận:
- - 01 máy lạnh nhãn hiệu Toshiba, 1Hp mua mới năm 2020, đã qua sử dụng, giá định: 7.530.000 đồng.
- - 05 tấm kính cửa sổ, kích thước mỗi tấm 1m00x0m60, độ dầy 0,5cm, đã qua sử dụng, giá định: 540.000 đồng.
- - 01 tấm kính cửa chính, kích thước 1m40x0m40, dày 0,5cm, đã qua sử dụng, giá định: 100.000 đồng.
- - 02 tấm kính cửa phòng ngủ 1m20x1m00, dầy 0,5cm, đã qua sử dụng, giá định 430.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50S, màu đen mua mới năm 2020, đã qua sử dụng, giá định: 1.600.000 đồng.
- - 01 máy lạnh nhãn hiệu Panasonic, 01HP mua mới ngày 19/11/2024, đã qua sử dụng, giá định: 11.420.000 đồng.
- - 01 tủ trang điểm bàn nhựa đài loan, mua mới vào tháng 01/2025, đã qua sử dụng, giá định: 1.470.000 đồng.
Tổng cộng giá trị tài sản thiệt hại là 23.090.000 đồng và còn nhiều tài sản khác đã qua sử dụng, không đủ cơ sở xác định giá trị.
Quá trình điều tra bị cáo Phạm Văn T thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội. Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Trung H, bà Trần Thanh V và bà Nguyễn Thanh T1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
1/. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Giết người” và tội “Hủy hoại tài sản”.
Căn cứ điểm a, l, n, q khoản 1 Điều 123; điểm d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 57, Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người” và 02 (hai) năm tù về tội “Hủy hoại tài sản”.
Tổng hợp hình phạt bị cáo Phạm Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2025.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo và quyền thi hành án theo quy định pháp luật.
Ngày 07/10/2025, bị cáo Phạm Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không có cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ gì khác. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên xử; bị cáo trình bày lý do xin giảm nhẹ hình phạt là do lỗi của bị hại T1, đã lấy tiền của con mua sắm nữ trang, không chăm sóc con chung làm bị cáo bức xúc nên phạm tội; mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để cho bị cáo sớm về chăm sóc con.
Tại phiên tòa, đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo Phạm Văn T.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn T trình bày: về tội danh thống nhất bị cáo T phạm tội “Giết người” và “Hủy hoại tài sản” như bản án sơ thẩm đã xét xử. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, bị cáo phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 57 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo T không tranh luận và nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về chung sống với con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo bị cáo Phạm Văn T:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; các Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/02/2025, tại nhà ông Nguyễn Trung H ở ấp C, phường G, tỉnh Tây Ninh. Phạm Văn T biết trong nhà ông H hiện có bà T1, ông H và bà V đang ngủ, T sử dụng ổ khoá đã chuẩn bị, khoá ngoài cửa chính nhà ông H, rồi đập vỡ cửa kính phòng ngủ của bà T1 và phòng ngủ của ông H, bà V, dùng xăng chứa trong cách bịch nylon ném vào bên trong phòng ngủ, đốt cháy nhằm giết chết bà T1, ông H, bà V và làm thiêu cháy các tài sản của ông H, bà T1 gồm ti vi, điện thoại di động, máy lạnh..., với tổng giá trị tài sản thiệt hại là 23.090.000 đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung là giết từ 02 người trở lên, bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người – dùng xăng là chất dễ cháy, có tính côn đồ và vì động cơ đê hèn được quy định tại điểm a, l, n, q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự và tội “Hủy hoại tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan không sai.
[2.2] Hành vi của bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần có mức án thật nghiêm khắc đối với bị cáo, mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cho rằng bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là chưa chính xác, trường hợp này phải nhận định bị cáo tuy không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 52, nhưng bị cáo có tới 4 tình tiết tăng nặng định khung ở khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo tội “Giết người” với mức hình phạt 18 năm tù, 02 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” là chưa tương xứng với tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm, các bị hại không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị theo hướng tăng nặng hình phạt, nên Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm đã tuyên theo hướng có lợi cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ gì mới để bảo vệ cho yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Các quyết định khác về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự, về án phí sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Tuyên xử:
1/. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Giết người” và tội “Hủy hoại tài sản”.
Căn cứ điểm a, l, n, q khoản 1 Điều 123; điểm d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 57, Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người” và 02 (hai) năm tù về tội “Hủy hoại tài sản”.
Tổng hợp hình phạt bị cáo Phạm Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2025.
2/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3/. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đắc Minh |
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Nguyễn Thị Ngọc Hoa | Trần Ngọc Tuấn | Nguyễn Đắc Minh |
Bản án số 51/2026/HS-PT ngày 20/01/2026 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người và hủy hoại tài sản)
- Số bản án: 51/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người và Hủy hoại tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
