|
TÒA PHÚC THẨM TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2026/HS-PT Ngày: 20/01/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hải Thanh. |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Xuân Trọng; |
| Ông Nguyễn Tiến Dũng. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Duy Khánh, Thư ký viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng T, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 533/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Ma Đình S. Do có kháng cáo của bị hại bà Đinh Thị Cúc H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo bị kháng cáo: Ma Đình S, sinh năm 1993 tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: 020093004104; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số D, ngõ A, đường N, khối A, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là số 46, ngõ A, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn); nghề nghiệp: Nguyên cán bộ ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H (H4) Chi nhánh tỉnh L - Phòng G; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Văn C và bà Nông Thị H1; vợ, con: Chưa cóoaHoangfh; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 21-11-2024. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Quan Hữu T1, văn phòng L1 - Đoàn luật sư tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại có kháng cáo: Bà Đinh Thị Cúc H, sinh năm 1958; trú tại: Số nhà C, đường C, thôn A, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ma Đình S là cán bộ ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H(H4) Chi nhánh tỉnh L - Phòng G từ năm 2018. Khoảng đầu năm 2021, thông qua việc nhắn tin, trao đổi trên nền tảng GAME DOTA 2, Ma Đình S quen biết với một người tên L (không rõ lai lịch cụ thể). Tháng 6-2021, L rủ Ma Đình S đầu tư tiền tiền ảo ETH bằng cách chuyển tiền cho L để Luân chuyển sang tiền ảo theo mệnh giá thị trường. Sau một thời gian, mệnh giá đồng tiền ảo thay đổi, người đầu tư có thể bán số tiền ảo đang sở hữu để thu về và hưởng lợi số tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra ban đầu. Đến tháng 10-2021, do bắt đầu thua lỗ nên S đã vay tiền của nhiều người để tiếp tục đầu tư tiền ảo và phải gửi thêm tiền vào để duy trì mức đầu tư nếu không sẽ mất toàn bộ tiền đầu tư trước đó. Để có được tiền đầu tư, Ma Đình S đã đưa ra những thông tin gian dối, không đúng sự thật đối với một số người. Do tin tưởng Ma Đình S là cán bộ ngân hàng nên nhiều người đã cho Ma Đình S vay tiền rồi bị Ma Đình S chiếm đoạt rồi chuyển tiền cho L để L đầu tư tiền ảo, một phần số tiền chiếm đoạt được Ma Đình S sử dụng để trả nợ quay vòng. Khi phát sinh số nợ lớn, không còn khả năng thah toán và bị nhiều người thúc giục trả tiền, Ma Đình S đã nghỉ việc tại ngân hàng H4 và bỏ đi khỏi địa phương.
Quá trình điều tra xác định được Ma Đình S đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại Đinh Thị Cúc H như sau: Trong quá trình làm việc tại ngân hàng H4 Chi nhánh tỉnh L-Phòng G, Ma Đình S có quen biết bà Đinh Thị Cúc H và đã nhiều lần dẫn khách hàng đến gặp bà Đinh Thị Cúc H giao dịch vay mượn tiền có thỏa thuận lãi suất để phục vụ việc tất toán khoản vay với ngân hàng.
Do cần tiền để đầu tư tiền ảo và trả nợ quay vòng nên Ma Đình S đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Đinh Thị Cúc H với thủ đoạn như sau: Ma Đình S biết bà Phạm Thị Thanh T2, là khách hàng của Ma Đình S không tìm được chỗ vay tiền để đáo hạn khoản vay nên Ma Đình S gọi điện cho bà Phạm Thị Thanh T2, đưa ra thông tin gian dối rằng khoản vay 550.000.000 đồng của gia đình bà Phạm Thị Thanh T2 ở ngân hàng H5 đã đến hạn thanh toán (thực tế hạn thanh toán khoản vay này vào tháng 12-2021). Ngày 29-10-2021, Ma Đình S đưa bà Phạm Thị Thanh T2 đến gặp bà Đinh Thị Cúc H vay tiền để đáo hạn, bà Đinh Thị Cúc H đồng ý cho vay số tiền 550.000.000 đồng và yêu cầu Ma Đình S và bà Phạm Thị Thanh T2 ký giấy vay tiền. Sau đó, trong ngày 29-10-2021, bà Đinh Thị Cúc H đã chuyển tiền vào tài khoản của Ma Đình S 400.000.000 đồng và vào tài khoản của Thân Mạnh D là con trai bà Phạm Thị Thanh T2 số tiền 150.000.000 đồng.
Ngay sau khi nhận được 400.000.000 đồng từ bà Đinh Thị Cúc H, Ma Đình S trả nợ cho Nông Chí N số tiền 200.000.000 đồng, trả nợ Nguyễn Ngọc C1 100.000.000 đồng và chuyển khoản cho L 100.000.000 đồng để đầu tư tiền ảo. Khi bà Đinh Thị Cúc H hỏi thì Ma Đình S nói dối đã chuyển tiền cho con trai bà Phạm Thị Thanh T2 là Thân Mạnh D rồi Ma Đình S sử dụng phần mềm để thao tác, làm giả ảnh chụp màn hình điện thoại “giao dịch thành công” đã chuyển khoản cho Thân Mạnh D số tiền 400.000.000 đồng sau đó gửi cho bà Đinh Thị Cúc H và hẹn vài ngày sau giải ngân xong sẽ chuyển đủ 550.000.000 đồng cho bà H. Sau đó Ma Đình S nghỉ việc tại ngân hàng H4 Chi nhánh tỉnh L-Phòng G và cắt liên lạc với bà Đinh Thị Cúc H. Ngày 25-6-2024, bà Đinh Thị Cúc H đến cơ quan Công an trình báo sự việc, tố giác hành vi phạm tội của Ma Đình S.
Ngoài hành vi trên, bằng thủ đoạn tương tự, bị cáo Ma Đình S còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 03 bị hại khác (không có kháng cáo) gồm: bà Đỗ Thúy H2 số tiền 500.000.000 đồng (sau đó Ma Đình S đã trả được cho bà Đỗ Thúy H2 100.000.000 đồng, còn chiếm đoạt số tiền 400.000.000 đồng); bà Ngô Thị H3 số tiền 620.000.000 đồng; ông Hoàng Nguyên K số tiền 608.500.000 đồng. Tổng số tiền Ma Đình S đã chiếm đoạt của 04 bị hại là 2.128.500.000 đồng.
Tại giai đoạn giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, gia đình bị cáo đã trả cho 04 bị hại mỗi người 25.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 274, 275, 357, 468, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a, c, f, g khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ma Đình S phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ma Đình S 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt: 21-11-2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Ma Đình S.
3. Bị cáo Ma Đình S phải bồi thường cho bị hại bà Đinh Thị Cúc H số tiền 375.000.000 đồng (ba trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
4. Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp 35.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000244 ngày 11/9/2025, tại Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn để thi hành án cho các bị hại, mỗi bị hại được thi hành án là 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự với 03 bị hại khác, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/9/2025, bị hại bà Đinh Thị Cúc H kháng cáo yêu cầu yêu cầu phong tỏa đối với thửa đất số 171, tờ bản đồ số 29c, địa chỉ tại khu F, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (thửa đất số 17 tờ bản đồ số 21C, địa chỉ: Khu F thị trấn N, huyện L (cũ) tỉnh Lạng Sơn) để đảm bảo việc thi hành án, xem xét làm rõ hành vi của mẹ và em trai của bị cáo, xử lý hình sự bị cáo về tội “Làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị hại bà Đinh Thị Cúc H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Bị cáo khai báo thành khẩn, xác định bản thân không có tài sản riêng, sau khi chấp hành án xong sẽ lao động kiếm tiền trả cho các bị hại.
- - Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Đinh Thị Cúc H, giữ nguyên quyết định về phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm đối với bà Đinh Thị Cúc H.
- - Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bị hại Bà Đinh Thị Cúc H trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của tỉnh Lạng Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định: Do đầu tư vào tiền ảo thua lỗ, không còn khả năng trả nợ nên Ma Đình S đã sử dụng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối để người khác tin tưởng để chiếm đoạt tiền của họ, sau đó sử dụng vào mục đích đầu tư tiền ảo và trả các khoản nợ cá nhân của Ma Đình S. Cụ thể trong tháng 10-2021, với thủ đoạn gian dối trên, Ma Đình S đã chiếm đoạt tài sản của 04 cá nhân gồm: Bà Đinh Thị Cúc H số tiền 400.000.000 đồng; bà Đỗ Thúy H2 số tiền 500.000.000 đồng (sau đó Ma Đình S đã trả được cho bà Đỗ Thúy H2 100.000.000 đồng, còn chiếm đoạt số tiền 400.000.000 đồng); bà Ngô Thị H3 số tiền 620.000.000 đồng; ông Hoàng Nguyên K số tiền 608.500.000 đồng. Tổng số tiền Ma Đình S đã chiếm đoạt cảu 04 bị hại là 2.128.500.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo Ma Đình S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị hại bà Đinh Thị Cúc H, Hội đồng xét xử thấy:
[4.1] Đối với kháng cáo về việc yêu cầu khắc phục hậu quả: Bà Đinh Thị Cúc H yêu cầu phong toả đối với thửa đất số 171, tờ bản đồ số 29c, địa chỉ tại khu F, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử xét thấy: Cơ quan điều tra đã có văn bản số 620/CQĐT-HS ngày 16-10-2024 gửi Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L đề nghị cung cấp thông tin về quyền sử dụng đất của bị cáo Ma Đình S và hộ ông Ma Văn C, bà Nông Thị H1. Ngày 25-10-2024, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L đã có Công văn số 418/VPĐKĐĐ-CĐS trả lời với nội dung: Không có thông tin về đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn của bị cáo Ma Đình S; có thông tin về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất nêu trên là của ông Ma Văn C và bà Nông Thị H1 là bố, mẹ của bị cáo. Do thửa đất nêu trên không phải tài sản thuộc sở hữu riêng của bị cáo nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định việc Cơ quan điều tra không phong tỏa đối với thửa đất trên để đảm bảo thi hành án và không xem xét là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4.2] Về yêu cầu làm rõ hành của mẹ và em trai của bị cáo; yêu cầu xử lý hình sự với bị cáo về tội “Làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức”: Các cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm không có chứng cứ chứng minh bà Nông Thị H1 và anh Ma Tiến M (mẹ và em trai bị cáo Ma Đình S) đồng phạm với bị cáo Ma Đình S trong việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Đinh Thị Cúc H nên không truy cứu trách nhiệm hình sự với họ là đúng. Bị cáo Ma Đình S sử dụng phần mềm để thao tác, làm giả ảnh chụp màn hình điện thoại với nội dung: “giao dịch thành công” thể hiện về việc chuyển khoản cho anh Thân Mạnh D số tiền 400.000.000 đồng sau đó gửi cho bà Đinh Thị Cúc H và hẹn vài ngày sau giải ngân xong sẽ chuyển đủ 550.000.000 đồng trả cho bà H. Như vậy, hành vi này của bị cáo diễn ra sau thời điểm bị cáo đã chiếm đoạt được tiền của bà H, với mục đích để bà H tin tưởng rằng tiền đã đến với người nhận là anh Thân Mạnh D; mặt khác tin nhắn do Ma Đình S tự soạn thảo không phải là tài liệu của cơ quan, tổ chức nào nên không đủ yếu tố cấu thành về tội “Làm giả giấy tờ tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[4.3] Với những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Đinh Thị Cúc H; quan điểm của Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Căn cứ quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Đinh Thị Cúc H không phải chịu án phí phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
Không chấp kháng cáo của bị bị hại bà Đinh Thị Cúc H. Giữ nguyên quyết định về phần trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với bà Đinh Thị Cúc H tại bản án hình sự sơ thẩm số 57/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, cụ thể như sau:
- Bị cáo Ma Đình S phải bồi thường cho bị hại bà Đinh Thị Cúc H số tiền 375.000.000 đồng (ba trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
- Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp 35.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000244 ngày 11/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn để thi hành án cho các bị hại, mỗi bị hại được thi hành án là 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hải Thanh |
Bản án số 51/2026/HS-PT ngày 20/01/2026 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 51/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị hại kháng cáo yêu cầu phong toả tài sản, yêu cầu xem xét tội danh "làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức".
