|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA Bản án số: 51/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27/01/2026 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đăng Thiện
- Ông Trịnh Trung Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 267/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 về việc "tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh ngày: 10/12/1980; số định danh cá nhân: 038180028161; nơi ĐKHKTT: P1007 A3 Khu C, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đặng Tiến H, sinh ngày: 12/11/1987; số định danh cá nhân: 038078003108; địa chỉ: Khu phố B, xã S, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Tiến H qua việc tìm hiểu, lấy nhau là do hai bên tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố T (nay là phường H), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 21/02/2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hòa thuận được khoảng 01 năm, đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp, luôn bất đồng về quan điểm, không có tiếng nói chung trong gia đình, nên hay xảy ra việc cãi vã, hôn nhân không có hạnh phúc. Năm 2024 chị đã 01 lần làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nhưng sau đó chị xin rút đơn để vợ chồng hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên chỉ được thời gian ngắn giữa vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Đến tháng 02/2025 thì vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn.
Về con chung: Chị Lê Thị L xác định vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị L xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 02 tháng 12 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Đặng Tiến H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố T (nay là phường H), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 21/02/2023. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc được gần 02 năm thì có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02/2025 đến nay. Nay chị L yêu cầu ly hôn, quan điểm của anh là đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh H xác định vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản và công nợ: Anh H xác định vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu giải quyết.
Tại Biên bản xác minh lập ngày 08/01/2026, đại diện UBND xã S cho biết: Chị Lê Thị L và anh Đặng Tiến H có quan hệ là vợ chồng. Anh chị có đăng ký kết hôn, nhưng đăng ký tại địa phương khác, không đăng ký kết hôn tại UBND xã S. Quá trình trung sống vợ chồng không có con chung. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng, địa phương không nắm bắt được vì gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải ở cơ sở.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:
I. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
II. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị giải quyết:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L, xử cho chị Lê Thị L được ly hôn với anh Đặng Tiến H.
- Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị L khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Đặng Tiến H, hiện đang cư trú tại: Khu phố B, xã S, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh Đặng Tiến H vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Đặng Tiến H tự nguyện kết hôn, đã được UBND phường Đ, thành phố T (nay là phường H), tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/02/2023, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, tình cảm giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng về quan điểm, không có tiếng nói chung trong gia đình. Từ tháng 02/2025 vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, chị L một mực đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn; Anh H cũng có ý kiến thể hiện quan điểm đồng ý ly hôn. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị L, xử cho chị Lê Thị L được ly hôn với anh Đặng Tiến H.
[3] Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Đặng Tiến H không có con chung. Do đó, không xem xét.
[4] Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị L và anh Đặng Tiến H đều có ý kiến không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị L được ly hôn với anh Đặng Tiến H.
- Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Đặng Tiến H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị L đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002849 ngày 11/11/2025 của Chi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Như vậy, chị Lê Thị L đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 - Thanh Hoá; - THADS tỉnh Thanh Hoá; - P. kiểm tra nghiệp vụ và THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự; - UBND phường Hạc Thành; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tiến |
Bản án số 51/2026/HNGĐ-ST ngày 27/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 51/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
