Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 508/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/12/2025

V/v: Xin ly hôn giữa bà Lê Thị D và ông

Nguyễn Đình C

NHÂN DANG

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Ngọc và bà Bùi Thị Mai

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên- Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 86/2025/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 08 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2025/QĐXX ngày 18/11/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 147/2025/QĐ- HPT ngày 11/12/2025, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1971

    Nơi thường trú và trú tại: Tập thể nhà máy C, xã L, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội nay là xã N, TP. Hà Nội.

    (Bà D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1967

    Nơi thường trú và trú tại: Tập thể nhà máy C, xã L, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội nay là xã N, TP. Hà Nội.

    (Ông C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là bà Lê Thị D trình bày:

- Về tình cảm: Tôi và ông Nguyễn Đình C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội ngày 04/09/1991. Trước khi kết hôn chưa ai có vợ, có chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Tập thể nhà máy Cơ khí, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội nay là xã Ngọc Hồi, TP. Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng tôi sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2006 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh trở nên căng thẳng nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm về nhiều mặt trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi cọ nhau. Ông C không chịu tu chí làm ăn đóng góp tiền để phụ giúp gia đình mà thường xuyên rượu bia về chửi vợ, mắng con. Ngoài ra ông C còn có lời lẽ xúc phạm bố mẹ tôi, anh trai tôi. Mỗi khi chồng tôi chửi bới, tôi chỉ biết giải tỏa bằng cách lao đầu vào tường, tự đánh, đấm vào đầu, vào mặt, vào ngực đến bầm tím mặt mày. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng đã có lần tôi đã có định tự tử nhưng được đồng nghiệp can ngăn. Vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, việc ai người nấy làm.

Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng với ông C không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn ông C.

- Về con chung: Tôi và ông C có 02 con chung là Nguyễn Đình T, sinh năm 1992 và cháu Nguyễn Thảo V, sinh năm 2005.

Cháu T và cháu V đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là ông Nguyễn Đình C, trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để Toà án giải quyết vụ án, tiếp cận và công khai chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ, tài liệu, thông báo về phiên hoà giải về việc bà Lê Thị D xin ly hôn nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do

Tại phiên toà:

- Bà Lê Thị D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

- Ông Nguyễn Đình C vắng mặt không có lý do

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau:

- Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật

- Đối với việc chấp hành pháp luật của đương sự:

  • + Nguyên đơn chấp hành, đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự

  • + Bị đơn không chấp hành đầy đủ, không có mặt, không đưa ra các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình

* Về nội dung vụ án: Bà D và ông C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, ông bà chung sống hạnh phúc bình thường đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm về nhiều mặt trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi cọ nhau. Ông C không chịu tu chí làm ăn đóng góp tiền để phụ giúp gia đình mà thường xuyên rượu bia về chửi vợ, mắng con. Ngoài ra ông C còn có lời lẽ xúc phạm gia đình bà D. Ông bà tuy sống chung một nhà nhưng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, việc ai người nấy làm. Nay nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị D. Bà Lê Thị D được ly hôn ông Nguyễn Đình C

- Về con chung: Hai bên có 02 con chung là Nguyễn Đình T, sinh năm 1992 và cháu Nguyễn Thảo V, sinh năm 2005.

Anh T và chị V đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên không xem xét xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ: Bà D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Bà D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị D xin ly hôn ông Nguyễn Đình C có nơi thường trú và trú tại: Tập thể nhà máy C, xã L, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội nay là xã N, TP. Hà Nội. Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự

- Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật, bị đơn là ông Nguyễn Đình C đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết vụ án, để tham gia phiên hoà giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông C đều vắng mặt. Ngày 11/12/2025, Toà án đã mở phiên toà lần thứ nhất để xét xử vụ án nhưng ông C vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà và ấn định xét xử vào ngày 30/12/2025. Tại phiên toà ngày 30/12/2025, ông C vẫn vắng mặt không có lý do, xét thấy đây là lần thứ hai ông C vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ, đồng thời bà D cũng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà D và ông C theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị D và ông Nguyễn Đình C được tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND xã Liên Ninh, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội ngày 04/09/1991. Đây là một hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống ông bà sống hạnh phúc đến khoảng năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi cọ nhau, ông C không quan tâm đến cuộc sống chung vợ chồng, thường xuyên uống rượu bia về chửi mắng vợ con, không đóng góp kinh tế phụ giúp bà D. Tuy ông bà vẫn sống chung một nhà nhưng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, việc ai người nấy làm.

Quá trình giải quyết vụ án, ông C không có bất cứ lời khai nào, không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mà có thái độ chống đối, không hợp tác với Cơ quan pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho mình theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông C đã được Toà án tạo điều kiện để tham gia phiên hoà giải nhưng đều vắng mặt không có lý do cho thấy ông C không có mong muốn đoàn tụ với bà D. Điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông C là trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không thể hàn gắn được. Vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy việc sống chung giữa bà D và ông C không có hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà D đối với ông C là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận

* Về con chung: Bà D và ông C có 02 con chung là Nguyễn Đình T, sinh năm 1992 và cháu Nguyễn Thảo V, sinh năm 2005.

Anh T và chị V đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét

Quá trình giải quyết vụ án cho đến khi Toà án công khai chứng cứ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông C không có yêu cầu phản tố nên Toà án không xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện đến Toà án bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

* Về án phí: Bà Lê Thị D phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị D. Bà Lê Thị D được ly hôn ông Nguyễn Đình C.

  2. Về con chung: Xác nhận hai bên có 02 con chung là Nguyễn Đình T, sinh năm 1992 và cháu Nguyễn Thảo V, sinh năm 2005.

    Anh T và chị V đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên Tòa án không xem xét giải quyết.

  3. Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Toà án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

    Nếu phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện đến Toà án bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật

  4. Về án phí: Bà Lê Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm đã nộp được trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002887 ngày 01/08/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội

  • - VKSND khu vực 11- Hà Nội

  • - Phòng THADS khu vực 11- Hà Nội

  • - UBND xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội (nay là UBND xã Ngọc Hồi, TP. Hà Nội) số 36, quyển số 01 ngày 04/09/1991

  • - Các đương sự

  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Tự Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 508/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 508/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị D. Bà Lê Thị D được ly hôn ông Nguyễn Đình C. 2. Về con chung: Xác nhận hai bên có 02 con chung là Nguyễn Đình T, sinh năm 1992 và cháu Nguyễn Thảo V, sinh năm 2005. Anh T và chị V đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên Tòa án không xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Toà án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện đến Toà án bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger