Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2026/DS-PT

Ngày: 20/01/2026

“V/v tranh chấp ranh giới giữa các bất

động sản liền kề ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

Ông Trần Nam Trung

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:

Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/01/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 512/2025/TLPT-DS ngày 18/11/2025 về việc: “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 835/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc C - sinh năm: 1932

Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ

Đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1978 (Có mặt)

Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H - sinh năm: 1950 (Vắng mặt)

Địa chỉ: số E, KV T, phường T, Tp.Cần Thơ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị T1 - sinh năm 1964
  2. Ông Nguyễn Văn R - sinh năm 1966
  3. Bà Nguyễn Thị Bạch T2 - sinh năm 1968
  4. Bà Nguyễn Thị Thanh T3 - sinh năm 1971
  5. Ông Nguyễn Ngọc T - sinh năm 1978

Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, Tp .

(Bà T1, ông R, bà T2, bà T3 ủy quyền cho ông T tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền lập ngày 10/7/2023).

  1. Ông Nguyễn Ngọc S - sinh năm 1973 (Có mặt)

Địa chỉ: số E, khu vực T, phường T, Tp.Cần Thơ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Ngọc S: Luật sư Nguyễn Như H1, Văn phòng L4 – Đoàn L5 cần Thơ.

  1. Ông Nguyễn Trọng N - sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ

  1. Ông Nguyễn Trọng L - sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: số E, khu vực T, phường T, Tp.Cần Thơ.

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng C1 - sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc D – sinh năm: 1976 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ

  1. Ông Lê Hoàng H2 – sinh năm: 1952 (Vắng mặt)
  2. Ông Lê Thanh H3 – sinh năm: 1981 (Vắng mặt)
  3. Ông Lê Nhựt T4 – sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
  4. Ông Lê Thanh Vũ A – sinh năm: 1986 (Vắng mặt)
  5. Bà Lê Thị Cẩm L1 – sinh năm: 1993 (Vắng mặt)
  6. Bà Lê Thị Mỹ P – sinh năm: 1995 (Vắng mặt)
  7. Ông Lê Thanh T5 – sinh năm: 1987.

Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, Tp .

(Ông T5 ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc T tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền lập ngày 10/7/2025).

  1. Bà Tăng Thị N1 – sinh năm: 1981 (Vắng mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Tăng N2 – sinh năm: 2001 (Vắng mặt)
  3. Ông Nguyễn Đăng K – sinh năm: 2015 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, Tp.Cần Thơ

Người làm chứng:

  1. Ông Võ Văn T6 – sinh năm: 1956 ( Vắng mặt)

2/ Ông Phạm Văn G – sinh năm: 1962 ( Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, Tp .

  1. Ông Nguyễn Hoàng B - sinh năm: 1962 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ

  1. Ông Nguyễn Văn L2 – sinh năm: 1951 ( Vắng mặt)
  2. Ông Chương Văn M – sinh năm: 1949 ( Vắng mặt)
  3. Ông Chương Văn K1 – sinh năm: 1967 ( Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, Tp .

  1. Ông Nguyễn Vĩnh T7 - sinh năm: 1957 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc S1.

NỘI DUNG VỤ KIỆN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C có người đại diện ủy quyền ông Nguyễn Ngọc T trình bày như sau:

Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C là chủ sử dụng phần đất có diện tích 1.146m² thuộc các thửa đất số 1047,1048, loại đất ODT, LNK do hộ ông C đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00202 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 25/7/2001, tọa lạc tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ. Đất có nguồn gốc do cha mẹ để lại cho ông C sử dụng từ trước năm 1975. Sau đó, ông C được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông sử dụng liên tục cho đến nay.

Giáp ranh với thửa đất số 1047,1048 của ông C là thửa đất số 1065 của vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Ầ (chết) và bà Nguyễn Thị H do hộ ông Nguyễn Ngọc  đứng tên chủ sử dụng. Từ trước đến nay giữa các thửa đất số 1047,1408 của ông C sử dụng và thửa đất 1065 của gia đình ông Á, bà H sử dụng thì các bên đều có ranh giới cụ thể có hiện trạng là con mương nước, nay là vách tường của nhà ông Nguyễn Ngọc S là hết thửa đất 1605 còn lại phần đất tranh chấp là có hiện trạng là phần đất bờ do gia đình ông C sử dụng từ trước năm 1975 cho đến nay. Quá trình sử dụng đất đến năm 2023, ông C tiến hành đo đạc các thửa đất 1047,1048 để lập thủ tục phân chia thừa kế thì bà H không thống nhất ranh giới nên các bên phát sinh tranh chấp.

Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận cho ông được quyền sử dụng phần đất có diện tích 73.1m² bao gồm: phần đất ký hiệu A 9,9m² và phần đất ký hiệu B 63,2m² thuộc thửa đất số 1047,1048, tờ bản đồ số 05, loại đất ODT, CLN do hộ ông C đứng tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện do ông C đang quản lý sử dụng, đồng thời, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Ngọc L3 phải chấm dứt mọi hành hành vi ngăn cản sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Ngọc Ầ (chết năm 2004). Vợ chồng có tổng cộng 06 người con gồm: 1/Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm: 1973, 2/Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1975; 3/Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm: 1979; 4/Ông Nguyễn Trọng L, sinh năm: 1983; 5/Ông Nguyễn Ngọc C2 (chết năm 2022) có vợ bà Tăng Thị N1, sinh năm: 1981, 02 con tên bà Nguyễn Thị Tăng N2, sinh năm: 2001, ông Nguyễn Đăng K, sinh năm: 2015; 6/ Bà Nguyễn Thị Hồng C1, sinh năm: 1985.

Bà đang quản lý sử dụng phần đất có tổng diện tích 3.077m² thuộc các thửa đất số 1064,1065, loại đất ODT, Q, do hộ ông Nguyễn Ngọc Ầ đứng tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000038 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 15/10/1996, tọa lạc khu vực T, phường T, Tp.Cần Thơ. Thửa đất số 1065 của gia đình bà giáp ranh với các thửa đất số 1047,1048 do hộ ông Nguyễn Ngọc C đứng tên chủ sử dụng. Nguồn gốc đất do ông bà để lại từ trước năm 1990 cho gia đình bà sử dụng liên tục cho đến nay.

Quá trình sử dụng đất giữa các thửa đất có ranh giới là cây vú sữa (chết) nhưng khi làm lộ giao thông đã lấp nên không còn cột mốc ranh giới giữa các thửa đất và không xác định được ranh giới cụ thể nên phát sinh tranh chấp.

Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà không đồng ý và yêu cầu Tòa án đo đạc để xác định ranh giới giữa các thửa đất để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Ngọc T đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị T1, ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thị Bạch T2, bà Nguyễn Thị Thanh T3 thống nhất trình bày:

Ông, bà là con của ông Nguyễn Ngọc C, bà Nguyễn Thị C3 (chết năm 2012). Ông bà thống nhất với ý kiến và yêu cầu của nguyên đơn ông C trình bày và yêu cầu Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.

2/ Ông Lê Hoàng O, ông Lê Thanh H3, ông Lê Nhựt T4, ông Lê Thanh Vũ A, bà Lê Thị Cẩm L1, bà Lê Thị Mỹ P, ông Lê Thanh T5 có người đại diện ủy quyền ông Nguyễn Ngọc T thống nhất trình bày:

Ông, bà là chồng, con của bà Nguyễn Thị Thu K2 (chết năm 2023). Bà K2 là con ruột của ông Nguyễn Ngọc C, bà Nguyễn Thị C3 (chết). Bà K2 chung sống với ông H2 có tổng cộng 06 người con gồm: 1/Ông Lê Thanh H3, sinh năm: 1981; 2/ Ông Lê Nhựt T4, sinh năm: 1983; 3/Ông Lê Thanh Vũ A, sinh năm: 1986; 4/Bà Lê Thị Cẩm L1, sinh năm: 1993; 5/Bà Lê Thị Mỹ P, sinh năm: 1995; 6/Ông Lê Thanh T5, sinh năm: 1987.

Ông, bà thống nhất với ý kiến của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C về việc ông C là chủ sử dụng phần đất có diện tích 1.146m² thuộc các thửa đất số 1047,1048, loại đất ODT, LNK do hộ Chiếu đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00202 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 25/7/2001, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc phần đất do cha mẹ ruột để lại cho ông C sử dụng từ trước năm 1975.

Sau đó, ông C được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định và sử dụng liên tục cho đến nay. Giáp ranh với thửa đất số 1047,1048 của nguyên đơn là thửa đất số 1065 của vợ chồng ông Ầ chết, bà H do hộ ông Ẩ đứng tên chủ sử dụng và phát sinh tranh chấp. Theo ông bà được biết phần đất các bên đang tranh chấp có hiện trạng đất bờ do gia đình ông C sử dụng từ trước đến nay, gia đình bị đơn không sử dụng đất này là sự thật nên thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Ngoài ra, do bận công việc làm ăn và điều kiện đi lại khó khăn nên ông bà yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp theo quy định pháp luật.

3/ Ông Nguyễn Trọng L, ông Nguyễn Ngọc S thống nhất trình bày:

Các ông là con của ông Nguyễn Ngọc Ẩ, bà Nguyễn Thị H. Các ông thống nhất về quan hệ thừa kế như bà H trình bày. Ông S đang sử dụng một phần đất cất nhà ở khoảng 100m² thuộc thửa đất 1065 do cha mẹ cho tiếp giáp với thửa đất số 1047, 1048 của ông C, phần diện tích còn lại do bà H và ông N sử dụng trong tổng số diện tích 3.077m² thuộc các thửa đất số 1064, 1065, loại đất ODT, Q do hộ ông Ả đứng tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000038 cấp ngày 15/10/1996.

Nay, qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông S không đồng ý yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Trường hợp thỏa thuận thì ông yêu cầu mỗi bên được sử dụng ½ diện tích tranh chấp là đúng theo ranh giới thửa đất. Các vấn đề khác các ông thống nhất như bà H trình bày.

Người làm chứng ông Võ Văn T6, ông Phạm Văn G, ông Nguyễn Hoàng B, ông Nguyễn Văn Long Chương Văn M, ông Chương Văn K1, ông Nguyễn Vĩnh T7 thống nhất trình bày:

Các ông không có quan hệ thân thích với ông C, bà H nhưng các ông có sống lân cận với phần đất tranh chấp ranh giới giữa ông C và bà H. Các ông biết rõ phần đất giữa thửa đất số 1047,1408 của ông C sử dụng và thửa đất 1065 của gia đình bà H sử dụng thì các bên đều có ranh giới có hiện trạng là con mương nước nay vách tường của nhà ông Nguyễn Ngọc S là hết thửa đất 1605 còn lại phần đất tranh chấp là phần đất có hiện trạng là phần đất bờ do gia đình ông C sử dụng từ trước năm 1990 cho đến nay. Các ông được biết thời điểm nhà nước cấp giấy đất đo đạc bằng thước dây để cấp giấy đất nay kết quả đo đạc được thực hiện bằng máy móc hiện đại nên có sự thay đổi về diện tích, mặt khác, diện tích mở rộng đường giao thông cũng phần nào ảnh hưởng đến diện tích các thửa đất. Theo các ông được biết phần đất các bên đang tranh chấp có hiện trạng đất bờ do gia đình ông C sử dụng từ trước đến nay, gia đình bị đơn không sử dụng đất này là sự thật nên thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn.

Ngoài ra, do các ông đã cao tuổi và điều kiện đi lại khó khăn nên yêu cầu được vắng mặt tại các lần hòa giải đối chất và xét xử tại Tòa án các cấp và hoàn toàn chịu trách nhiệm về ý kiến trình bày của mình.

Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án tiến hành đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ xác định phần đất tranh chấp có tổng diện tích 73,1m² bao gồm: Phần đất ký hiệu A có diện tích 9.9m² và phần đất ký hiệu B có diện tích 63,2m² thể hiện tại Bản trích đo địa chính số 74/TTKTTNMT, ngày 14/01/2025 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thực hiện và trên đất không có tài sản, hiện do ông C đang sử dụng.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 69/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1] Công nhận cho nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C được quyền sử dụng phần đất có tổng diện tích 73,1m² (Ký hiệu A,B) thuộc các thửa đất số 1047, 1048, loại đất ODT, CLN, tờ bản đồ số 03 do hộ Nguyễn Ngọc C đứng tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00202 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 25/7/2001, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ.

[2] Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Trọng L phải có trách nhiệm giao trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C phần đất có diện tích 73,1m² thuộc các thửa đất số 1047,1048 nêu trên.

Vị trí, kích thước các cạnh phần đất được xác định theo Bản trích đo địa chính số 74/VPĐKĐĐ, ngày 14/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thực hiện (Đính kèm)

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân khu vực 4- Cần Thơ đã tuyên xử người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Học S2 đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư Nguyễn Như H1, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Ngọc S trình bày: Về tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm có sai sót như sau: Bà H vắng mặt hai lần tại các phiên tòa chưa chứng minh bà đã nhận được giấy triệu tập. Bà C1 hiện đang sinh sống tại Đài Loan không phải ở Việt Nam. Về nội dung: Diện tích đất cả hai bên đều thiếu nhưng bị đơn lại thiếu nhiều. Bản án sơ thẩm căn cứ vào Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015 để xác định ranh giới là thiếu căn cứ vì: Hai bên không thỏa thuận về ranh, H4 bên đều thiếu diện tích thì do khách quan chứ sao lại buộc bị đơn phải trả ? Căn cứ vào biên bản hòa giải khu vực ông C cho rằng do ông S làm sàn nước, nước bị ứ động nên ông mới đào mương. Hai bên đều có lu nước để lu nước trên phần đất tranh chấp. Những người làm chứng trong vụ án có lời trình bày giống hệt nhau là chưa phù hợp. Bản án sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, không khách quan. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc S1: Ông S1 kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới.

Xét quá trình sử dụng đất thì phía nguyên đơn sử dụng phần đất tranh chấp, bị đơn không sử dụng. Hơn nữa, phần nhà của bị đơn đã xác định ranh đất từ mí nhà bị đơn. Bản án sơ thẩm đã công nhận cho nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C được quyền sử dụng phần đất có tổng diện tích 73,1m² ( Ký hiệu A,B) thuộc các thửa đất số 1047,1048, loại đất ODT, CLN, tờ bản đồ số 03 do hộ Nguyễn Ngọc C đứng tên chủ sử dụng và buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Trọng L phải có trách nhiệm giao trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C phần đất có diện tích 73,1m² thuộc các thửa đất số 1047,1048 nêu trên là có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề” Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Kháng cáo của người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong hạn luật định nên được xem xét.

[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: trả tiền là 10.000.000 đồng, nên đây là quan hệ đòi lại tài sản mà tự ý nghỉ họXét nguồn gốc đất: Hộ ông C đứng tên các thửa đất 1047, 1048. Hộ ông A đứng tên chủ sử dụng các thửa 1064, 1065. Đất có nguồn gốc ông bà để lại cho ông C, ông Ầ sử dụng ổn định từ trước năm 1990 và được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Các đương sự sử dụng đất liên tục không ai tranh chấp, khiếu nại hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có ý kiến đối với việc cấp giấy đất này nên hộ ông C, ông Ầ được xem là chủ sử dụng đất hợp pháp là phù hợp.

Xét về diện tích: So với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất của hai hộ đều giảm. Cụ thể: Các thửa đất số 1047, 1048, có diện tích 826,2m² so với diện tích được cấp 1.146m² giảm 319,8m² và các thửa đất số 1064, 1065 có diện tích 2.434,7m² so với diện tích được cấp có diện tích 3.077m² giảm 642,3m². Xét thấy về diện tích thực tế sử dụng giảm so với diện tích trong giấy đất được nhà nước cấp có nguyên nhân là do các thửa đất này tiếp giáp với hương lộ T trước đây hương lộ có chiều ngang khoảng 3 - 4m, nay được nhà nước mở rộng hương lộ là 6,5m, mặc khác, thời điểm năm 1989 - 1990 nhà nước cho đăng ký cấp giấy là đăng ký đại trà, quá trình đo đạc được thực hiện thủ công nên việc sai số là có thể xảy ra. Hơn nữa, diện tích giảm của bị đơn nhiều hơn nguyên đơn là do khi làm đường mở rộng lộ thì bề mặt tiếp xúc với lộ của bị đơn nhiều hơn, phần đất lớn và dài hơn nguyên đơn nên bị mất nhiều hơn của nguyên đơn. Vì vậy, có cơ sở xác định diện tích các thửa đất giảm là do lỗi khách quan.

Xét quá trình sử dụng phần đất tranh chấp: Xét thấy các đương sự đều thừa nhận từ trước năm 1990 đến khi phát phát sinh tranh chấp thì ranh giới giữa các thửa đất sử dụng ổn định và giữa các thửa đất có hiện trạng vách tường nhà xây kiên cố của ông S và khi ông S xây dựng nhà thì các bên không ai tranh chấp, khiếu nại việc xây dựng nhà của ông trên đất. Do đó, xác định ranh giới là từ mốc nhà ông S trở qua. Phía ông S cho rằng do quá trình xây dựng theo tập quán nông thôn thì nhà xây phải chừa trống một khoảng để thoáng mát chứ không phải tính từ vách nhà ông làm ranh. Tuy nhiên, phần đất tranh chấp gia đình nguyên đơn sử dụng từ trước đến nay. Phía ông S đã xây dựng nhà đã xác định ranh từ nhà ông trở qua. Nếu ông S cho rằng chừa ra phần đất trống cập bên hông nhà thì các cạnh phải ngang bằng nhau trong khi đầu ngoài thì 2,4m và đầu trong bằng 0 thì chưa phù hợp với thực tế sử dụng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự thừa nhận nguyên đơn đang sử dụng đất tranh chấp nhưng do bị đơn có phần đất liền kề và có ngăn cản việc sử dụng đất của nguyên đơn. Vì vậy, cần buộc bị đơn và các thành viên gia đình ông S, ông L phải có trách nhiệm giao phần đất này cho nguyên đơn để xác định ranh giới theo hiện trạng thực tế cho các bên sử dụng ổn định là phù hợp theo quy định tại các Điều 175, Điều 176, Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp nên giữ nguyên.

[3] Xét kháng cáo của ông S: Ông S kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới. Phần vách nhà của ông đã xây dựng không tranh chấp nên xác định ranh từ mí nhà ông trở qua. Phần đất trống từ mé nhà ông trở qua là nguyên đơn sử dụng nên công nhận diện tích đất này cho nguyên là phù hợp.

[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định là 10.000.000 đồng bị đơn chịu.

[5] Về án phí sơ thẩm: Bà H là người cao tuổi nên được miễn.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Học S3 phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003251 ngày 18/9/2025 thành án phí. Ông S3 đã nộp xong.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 164, Điều 166, Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 26, Điều 31, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên án:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc S.

Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1] Công nhận cho nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C được quyền sử dụng phần đất có tổng diện tích 73,1m² ( Ký hiệu A,B) thuộc các thửa đất số 1047,1048, loại đất ODT, CLN, tờ bản đồ số 03 do hộ Nguyễn Ngọc C đứng tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00202 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 25/7/2001, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ.

[2] Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Trọng L phải có trách nhiệm giao trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C phần đất có diện tích 73,1m² thuộc các thửa đất số 1047,1048 nêu trên.

Vị trí, kích thước các cạnh phần đất được xác định theo Bản trích đo địa chính số 74/VPĐKĐĐ, ngày 14/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thực hiện (Đính kèm)

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản tổng số tiền 10.000.000 đồng. Bị đơn bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm nộp số tiền 10.000.000 đồng để trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị H được miễn toàn bộ án phí do bà thuộc trường hợp người cao tuổi.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Học S3 phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003251 ngày 18/9/2025 thành án phí. Ông S3 đã nộp xong.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND Khu vực 4 – Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 4- Cân Thơ
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Thành viên Hội đồng xét xử

Nguyễn Thị Tuyết Loan - Trần Nam Trung

.

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2026/DS-PT ngày 20/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề

  • Số bản án: 50/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Nguyễn Ngọc C khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger