Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 498/2025/DSST

Ngày 31/12/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng cung ứng

dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Văn Đời

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thái Phương Dung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 238/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238 /2025/QĐXXST-DSST ngày 25/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 150/2025/QĐST-DS ngày 15/12/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1). Địa chỉ trụ sở chính: 2 N, phường H, TP Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Thạch D. Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Thanh H. Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Đ (Theo Quyết định số 1184/2025/QĐ-PC ngày 15/4/2025)

Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Thanh H là ông Phạm Đăng H1 (theo Giấy ủy quyền ngày 14/7/2025).Địa chỉ liên hệ: A B, phường H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

* Bị đơn: Ông Trần Q. Sinh năm: 1995. Nơi cư trú: Tổ B A, phường T, quận S, TP Đà Nẵng, nay là phường S, TP Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP S (S1) - Chi nhánh Đ có ký với ông Trần Q. Sinh năm: 1995. Nơi cư trú: Tổ B A, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng cũ, nay là phường S, thành phố Đà Nẵng Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 20/03/2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).

Căn cứ vào thu nhập của ông Trần Q, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, thông qua khoản vay; lãi suất trong hạn: 2.48%/tháng; lãi suất quá hạn: 3.72%/tháng đối với thẻ tín dụng quốc tế JCB 356481-0108.

Đến ngày 01/02/2025, ông Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Q và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tạm tính đến ngày 15/12/2025 ông Trần Q còn nợ S1 số tiền là: 31.763.225 đồng (Ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc là 21.871.802 đồng, lãi quá hạn là 9.891.423 đồng.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, S1 yêu cầu Tòa án:

Buộc ông Trần Q phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tạm tính đến ngày 15/12/2025 là 31.763.225 đồng (Ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc là 21.871.802 đồng, lãi quá hạn là 9.891.423 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 16/12/2025 theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ.

* Bị đơn ông Trần Q đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của ông Trần Q trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng:

  • - Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ thụ lý cho đến phiên toà xét xử. Nguyên đơn chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án: căn cứ Điều 100, 103 Luật Tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 280, Điều 463, Điều 466 BLDS.

Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Trần Q: Buộc ông Trần Q phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 15/12/2025 là: 31.763.225 đồng (Ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc là 21.871.802 đồng, lãi quá hạn là 9.891.423 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 16/12/2025 theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giữa Ngân hàng thương mại Cổ phần S và ông Trần Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Trần Q là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Q.

[2] Về nội dung vụ án:

Ngày 20/03/2018, ông Trần Q có ký Giấy đề nghị mở thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tại Ngân hàng thương mại Cổ phần S (S1). Theo đó hai bên cam kết đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cùng với mẫu đơn này tạo nên hợp đồng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Ngân hàng thương mại Cổ phần S đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Trần Q với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng dưới hình thức hạn mức tín dụng để thanh toán, tiêu dùng. Ông Trần Q được Ngân hàng thông báo về mức lãi suất cụ thể là 2,48%/tháng (lãi suất trong hạn) và được S1 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay.

Căn cứ vào thu nhập của ông Trần Q, S1 đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 20.000.000 đồng với mục đích thanh toán, tiêu dùng cho ông Trần Q. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông Trần Q đã thực hiện 25 giao dịch bằng thẻ với tổng số tiền là 56.722.802 đồng, ông Trần Q thanh toán cho S1 số tiền là 83.495.006 đồng (bao gồm số tiền gốc: 48.644.708 đồng; lãi: 34.850.298 đồng). Từ ngày 01/02/2025, ông Trần Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 2 của Bản Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hành). Ngân hàng đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng không nhận được sự hợp tác trả nợ từ ông Trần Q. Việc vi phạm nghĩa vụ của ông Trần Q như trên đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của S1. Do ông Trần Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 01/02/2025 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo Điều 23 của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hành). Tính đến ngày 15/12/2025 ông Trần Q còn nợ S1 số tiền là: 31.763.225 đồng (Ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc là 21.871.802 đồng, lãi quá hạn là 9.891.423 đồng.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy:

Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm Hợp đồng được ký kết giữa Ngân hàng thương mại Cổ phần S với ông Trần Q trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 01/02/2025, ông Trần Q đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo thông báo giao dịch của Ngân hàng, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Trần Q vẫn không có thiện chí trả nợ. Ngày 01/02/2025, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn; tính đến ngày 15/12/2025 ông Trần Q còn nợ S1 số tiền là: 31.763.225 đồng (Ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc là 21.871.802 đồng, lãi quá hạn là 9.891.423 đồng.

HĐXX xét thấy: ông Trần Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo theo Điều 2 và Điều 23 của bản Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng như đã ký kết. Việc khởi kiện của S1 yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Q phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp Điều 100, Điều 103 Luật Tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 280, Điều 463, Điều 466 BLDS; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016; điểm b, khoản 1 Điều 14 Nghị định 101/2021/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt nên cần được chấp nhận.

[4] Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 16/12/2025 trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng S1 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ký ngày 20/3/2018 cho đến khi ông Trần Q thanh toán xong khoản nợ.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần S được chấp nhận nên bị đơn là ông Trần Q phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể số tiền ông Trần Q phải chịu là 1.588.161 đồng (một triệu, năm trăm tám mươi tám ngàn, một trăm sáu mươi mốt đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 463, Điều 466 BLDS; Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
  • - Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” của Ngân hàng thương mại Cổ phần S đối với ông Trần Q.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Trần Q phải trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S số tiền tính đến ngày 15/12/2025 là: 31.763.225 đồng (Ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc là 21.871.802 đồng, lãi quá hạn là 9.891.423 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 16/12/2025 theo đúng thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm Hợp đồng ký ngày 20/3/2018 cho đến khi thanh toán hết nợ cho S1.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: 1.588.161 đồng (một triệu, năm trăm tám mươi tám ngàn, một trăm sáu mươi mốt đồng) ông Trần Q phải chịu.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 670.060 đồng (sáu trăm bảy mươi ngàn, không trăm sáu mươi đồng) theo biên lai thu số 0003512 ngày 13/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

  1. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND KV2-ĐN;
  • - Thi hành án DS TPĐN;
  • - Phòng THADS KV2-ĐN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Thẩm Phán

Phạm Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 498/2025/DSST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

  • Số bản án: 498/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài gòn TT kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Trần Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger