|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA Bản án số: 49/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27/01/2026 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đăng Thiện
- Ông Trịnh Trung Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 189/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc "tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh ngày: 14/7/1999; số định danh cá nhân: 038199023586; nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã L, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Làng B, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.
- Bị đơn: Anh Ngô Văn T, sinh ngày: 18/04/1994; số định danh cá nhân: 038094043432; địa chỉ: Thôn H, xã L, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Văn T qua việc tìm hiểu, lấy nhau là do hai bên tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Thọ Xuân (nay là xã Lam Sơn), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 17/10/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 01 năm đầu, sau đó thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, hôn nhân không có hạnh phúc, nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp, luôn bất đồng về quan điểm, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm để vợ chồng chung sống nhưng không có kết quả, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Đến tháng 05/2025 thì vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn.
Về con chung: Chị Lê Thị L xác định vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị L xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Ngô Văn T đã được Tòa án triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không lấy được lời khai.
Tại Biên bản xác minh lập ngày 08/12/2025, đại diện UBND xã L cho biết:
Chị Lê Thị L và anh Ngô Văn T có quan hệ là vợ chồng. Anh chị có hộ khẩu thường trú tại: Thôn H, xã L, tỉnh Thanh Hóa. Chị L và anh T đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T (nay là xã L) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60, ngày 17/10/2022. Quá trình chung sống vợ chồng chị L và anh T không có con chung. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng, địa phương không nắm bắt được vì gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải ở cơ sở.
Tại Biên bản làm việc lập ngày 08/12/2025 tại gia đình anh Ngô Văn T, bố đẻ anh T là ông Ngô Văn T1 cho biết:
Chị Lê Thị L và anh Ngô Văn T có quan hệ là vợ chồng, anh chị kết hôn vào năm 2022. Sau khi lấy nhau thì anh chị sống cùng gia đình ông tại thôn H, xã L, quan hệ giữa vợ chồng bình thường. Sau đó anh chị đi làm ăn ở tỉnh Bắc Ninh, đến tháng 09/2025 thì anh chị vẫn về nghỉ lễ cùng gia đình. Giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn như thế nào thì gia đình không nắm được, nhưng gia đình có động viên, khuyên nhủ mà không được. Chị L bỏ về nhà mẹ đẻ từ tháng 09/2025 đến nay. Nay chị L yêu cầu ly hôn với anh T thì gia đình không tham gia vì đó là việc riêng của anh chị. Quá trình chung sống chị L và anh T không có con chung. Quan điểm của anh T về việc chị L yêu cầu ly hôn như thế nào thì gia đình không rõ, vì anh T không trao đổi với gia đình. Gia đình ông có nhận được các văn bản, giấy tờ của Tòa án và đều báo lại cho anh T, tuy nhiên do anh T đi làm ăn xa nên không về Tòa án để tham gia giải quyết được.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
II. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị L được ly hôn với anh Ngô Văn T.
- Về con chung: Chị L và anh T không có con chung, nên không xét.
- Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị L khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Ngô Văn T, hiện đang cư trú tại: Thôn H, xã L, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh Ngô Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Ngô Văn T tự nguyện kết hôn, đã được UBND xã X, huyện T (nay là xã L) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 60, ngày 17/10/2022, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, tình cảm giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng về quan điểm, không có tiếng nói chung trong gia đình. Từ tháng 09/2025 vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, chị L một mực đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn; Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm, cũng như tham gia hòa giải và phiên tòa, điều đó thể hiện anh T không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị L, xử cho chị Lê Thị L được ly hôn với anh Ngô Văn T.
[3] Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Ngô Văn T không có con chung. Do đó, không xem xét.
[4] Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Ngô Văn T không có lời khai trong hồ sơ. Do đó, không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị L được ly hôn với anh Ngô Văn T.
- Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Ngô Văn T không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị L đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001326 ngày 09/10/2025 của Chi thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Như vậy, chị Lê Thị L đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 - Thanh Hoá; - THADS tỉnh Thanh Hoá; - P. kiểm tra nghiệp vụ và THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự; - UBND xã Lam Sơn; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tiến |
Bản án số 49/2026/HNGĐ-ST ngày 27/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 49/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
