Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25-12-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Mai Hương

Bà Hoàng Thị Yến

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXX-ST ngày 08 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Ú, xã K, thành phố Hải Phòng; có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Ú, xã K, thành phố Hải Phòng; có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Vũ Văn T vào ngày 26/12/2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là UBND xã K, thành phố Hải Phòng). Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc cho đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, do lối sống của cả hai không phù hợp, không thống nhất với nhau trong việc làm ăn kinh tế, không quan tâm, chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình, không tin tưởng nhau trong chuyện tình cảm nên thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2025 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài; chị xin ly hôn anh Vũ Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Vũ Việt T1, sinh ngày 04/12/2016 và Vũ Minh Á, sinh ngày 04/01/2015. Hiện cả hai con đang do anh T nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Á, đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 đến khi cả 02 con đủ 18 tuổi; trên cơ sở nguyện vọng của 2 con. Hiện nay cả chị và anh T đều có công việc và thu nhập ổn định, có nơi ăn ở đảm bảo, đủ điều kiện để nuôi các con tốt. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con giữa chị và anh T thỏa thuận tự giao nhận với nhau, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Văn T trình bày tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 18/11/2025 và tại Biên bản hòa giải ngày 02/12/2025: Thống nhất với chị N về thời gian điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc và nguyên nhân mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2025 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay anh xét thấy tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, anh đồng ý ly hôn chị Nguyễn Thị N.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Vũ Việt T1, sinh ngày 04/12/2016 và Vũ Minh Á, sinh ngày 04/01/2015. Hiện cả hai con đang do anh T nuôi dưỡng. Nếu ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con đến khi đủ 18 tuổi; trên cơ sở nguyện vọng của 2 con. Hiện nay cả anh và chị N đều có công việc và thu nhập ổn định, có nơi ăn ở đảm bảo, đủ điều kiện để nuôi các con tốt. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con giữa anh và chị N thỏa thuận tự giao nhận với nhau, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, chị N và anh T vắng mặt nhưng đều đã có văn bản trình bày ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt; đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh T. Về con chung: Giao cháu Vũ Việt T1, sinh ngày 04/12/2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Vũ Minh Á, sinh ngày 04/01/2015 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cả 02 con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị N nhận chịu toàn bộ 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị N xin ly hôn anh T và yêu cầu giải quyết về nuôi con. Anh T đang cư trú tại thôn Ú, xã K; căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Chị N và anh T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đều đã có ý kiến bằng văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T xác lập quan hệ vợ chồng theo đúng quy định về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là UBND xã K, thành phố Hải Phòng) ngày 26/12/2014. Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T được xác định là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc cho đến cho đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, do lối sống không phù hợp, không thống nhất với nhau trong làm ăn kinh tế, không quan tâm, chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình, không tin tưởng nhau trong chuyện tình cảm nên thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2025 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay anh chị đều xác định tình cảm không còn, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N và anh T đều thỏa thuận tự nguyện ly hôn, nên công nhận thuận tình ly hôn cho các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Vũ Việt T1, sinh ngày 04/12/2016 và Vũ Minh Á, sinh ngày 04/01/2015, hiện đang do anh T nuôi dưỡng. Nguyện vọng của chị N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Á, đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 đến khi cả 02 con đủ 18 tuổi. Nguyện vọng của anh T được trực tiếp nuôi cả 02 con đến khi đủ 18 tuổi. Tài liệu trong hồ sơ thể hiện chị N và anh T đều có công việc và thu nhập ổn định, có chỗ ở đảm bảo, đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tốt. Mặt khác, nguyện vọng của cháu T1 muốn được ở với anh T, nguyện vọng của cháu Á muốn được ở với chị N. Trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; cần giao cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Á cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, đến khi cả 02 con đủ 18 tuổi là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Do chị N và anh T đã thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm nên các đương sự chỉ phải chịu 50% mức án phí quy định đối với yêu cầu xin ly hôn. Tuy nhiên, các đương sự thống nhất để chị N nhận chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo luật định, được chấp nhận.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ vào khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T.

2. Về con chung:

- Giao cháu Vũ Việt T1, sinh ngày 04/12/2016 cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

- Giao cháu Vũ Minh Á, sinh ngày 04/01/2015 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N nhận chịu toàn bộ 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Hoàn trả lại chị Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004205 ngày 17 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 6 – Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Kiến Thụy;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Mai Hương

Hoàng Thị Yến

Phạm Thị Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger