Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày 29 - 12 - 2025

V/v “Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Ngọc Nga

2. Ông Phạm Ngọc Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Quỳnh Anh – Thư ký, Toà án nhân dân Khu vực 1 - Ninh Bình.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Đức Hiền.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 – N sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 229/2025/TLST-HNGĐ ngày 19/11/2025 về “Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 30/2025/QĐST- HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Q, sinh ngày 12/04/1993

Căn cước công dân số: 037193004782 cấp ngày: 15/03/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: Đinh Tiến L, sinh ngày: 20/11/1989

Căn cước công dân: 037089003862, cấp ngày; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa chị Hoàng Thị Q vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt; Anh Đinh Tiến L vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Hoàng Thị Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Tiến L kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc vào ngày 25/04/2011 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H (nay là phường N), tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn anh chị về sống chung với nhau, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ năm 2016, anh chị không cùng quan điểm sống cũng như khác biệt về lối sống nên giữa hai vợ chồng liên tục nảy sinh mâu thuẫn với nhau, khiến gia đình không còn hạnh phúc, vui vẻ. Anh Linh cả ngày không lo làm ăn, chăm sóc gia đình chỉ mải chơi, tụ tập cùng bạn bè. Những mâu thuẫn nhỏ tích dần thành những mâu thuẫn lớn khiến cả hai đều không thể tháo gỡ được. Gia đình, bạn bè hai bên nhiều lần khuyên răn nhưng không thành. Những mâu thuẫn, cãi vã, căng thẳng khiến hai vợ chồng anh chị không thể nói chuyện và chia sẻ được với nhau. Đến năm 2021, mặc dù chị và anh L sống chung nhưng nhưng mỗi người đều tự lo cuộc sống riêng của bản thân và không còn quan tâm tới nhau. Năm 2023, chị đã làm đơn khởi kiện ly hôn đơn phương với anh L tại Toà án nhân dân huyện Hoa Lư nhưng vì muốn hàn gắn gia đình cho các con đầy đủ bố mẹ nên chị đã rút đơn khởi kiện. Tháng 6 năm 2025, mâu thuẫn căng thẳng nên chị khởi kiện lại tại Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xin ly hôn nhưng đã rút đơn khởi kiện để đoàn tụ, Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Đến nay, chị nhận thấy vợ chồng chị không thể hàn gắn tình cảm, mặc dù chị đã cho anh L nhiều cơ hội để giải quyết mâu thuẫn. Vì vậy chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh Đinh Tiến L.

- Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung là: Cháu Đinh Hoàng L1, sinh ngày 06/06/2011; cháu Đinh Hoàng A, sinh ngày 25/09/2017. Hiện nay các cháu đang ở với chị. Do anh L không có việc làm, việc nuôi dưỡng, chăm sóc 02 cháu từ 2021 hoàn toàn do tôi lo nên để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, tạo môi trường giáo dục cho 02 cháu L1 và cháu Hoàng A sau khi ly hôn được tốt nhất thì chị đề nghị Toà án giao cháu 02 cháu cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng cho con: Chị Q không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về tài sản và công nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ cho anh L: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Nhưng anh L không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gửi Tòa án.

Tại đơn trình bày nguyện vọng hai cháu Đinh Hoàng L1 và Đinh Hoàng A đều có nguyện vọng được ở cùng chị Q.

Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ anh L vắng mặt không có lý do. Chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, đồng thời tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp cho anh L.

Tại biên bản xác minh, tổ trưởng tổ dân phố Bộ Đ cung cấp: Chị Hoàng Thị Q và anh Đinh Tiến L sinh sống tại tổ dân phố B. Vợ chồng anh chị có mâu thuẫn, va chạm, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh L không có trách nhiệm kinh tế với gia đình, chị Q đã từng nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án sau đó rút đơn để hàn gắn nhưng không có kết quả. Tổ dân phố đã động viên vợ chồng khắc phục mâu thuẫn để giữ gìn tình cảm vợ chồng. Đến nay chị Q vẫn quyết định xin ly hôn tại Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Anh chị có hai con chung, tổ dân phố không có thông tin về thu nhập của anh chị Q, L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Ninh Bình tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng người tham gia tố tụng, xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định của pháp luật. Tiến hành việc thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ theo đúng trình tự phiên tòa Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.

Thẩm phán đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 208, 209, 210, 211 BLTTDS.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56; 58; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, Điều 35; khoản 1 điều 39; Điều 147, 228 BLTTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, đề nghị HĐXX xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Q

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Q được ly hôn với anh Đinh Tiến L.

- Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Q được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Đinh Hoàng L1, sinh ngày 06/6/2011 và cháu Đinh Hoàng A, sinh ngày 25/9/2017 đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh L2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản; các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về án phí: Chị Hoàng Thị Q phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng, được trừ 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002959 ngày 18/11/2025.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Theo đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị Q, HĐXX xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Chị Q khởi kiện đối với bị đơn là anh Đinh Tiến L có địa chỉ tại phường N, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Ninh Bình.

[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Q là nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt; Anh Đinh Tiến L là bị đơn đã được triệu tập phiên toà lần thứ 2, vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Q và anh Đinh Tiến L được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H (nay là phường N), tỉnh Ninh Bình ngày 25/04/2011. Hôn nhân giữa chị Q và anh L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị Q trình bày sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, gia đình không còn hạnh phúc, vui vẻ, anh L không chăm chỉ làm ăn, chỉ mải chơi, tụ tập bạn bè, gia đình hai bên nhiều lần khuyên răn nhưng không thành. Từ năm 2021 mặc dù sống chung nhà nhưng anh chị mỗi người đều tự lo cuộc sống riêng của bản thân, không còn quan tâm tới nhau. Đối với anh L mặc dù đã được Toà án thông báo về việc Q xin ly hôn nhưng anh L không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Q. Việc anh L không có quan điểm về yêu cầu khởi kiện của chị Q, điều đó chứng tỏ rằng anh L không quan tâm, không mong muốn đoàn tụ gia đình, cuộc sống của anh chị không còn nghĩa vụ vợ

chồng. Xét thấy hôn nhân của chị Q và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Q là phù hợp với khoản 1, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Chị Hoàng Thị Q và anh Đinh Tiến L có hai con chung là cháu Đinh Hoàng L1, sinh ngày 06/06/2011; cháu Đinh Hoàng A, sinh ngày 25/09/2017. Chị Q có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu. Xét thấy anh L không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Q về giải quyết nuôi con chung, cho thấy anh L không quan tâm và mong muốn được chăm sóc con chung. Từ trước đến nay, hai con của anh chị đều do chị Q chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu khoẻ mạnh, học tập tốt. Các cháu đều có nguyện vọng được chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo tốt về mọi mặt cho các cháu, cần giao cả hai cháu cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng tiền cho con: Chị Hoàng Thị Q không đề nghị Toà án giải quyết. HĐXX không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Hoàng Thị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Hoàng Thị Q phải nộp án phí ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Q về việc “Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với anh Đinh Tiến L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị Q và anh Đinh Tiến L.

2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Đinh Hoàng L1, sinh ngày 06/06/2011; cháu Đinh Hoàng A, sinh ngày 25/09/2017 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Anh Đinh Tiến L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này. Khi cần các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.

Về cấp dưỡng tiền cho con: Chị Hoàng Thị Q không đề nghị Toà án giải quyết.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Hoàng Thị Q không đề nghị Tòa án giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Hoàng Thị Q phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền trên được trừ vào số tiền chị Q đã nộp tạm ứng án phí tại Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 1 - Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002959 ngày 18/11/2025.

Án xử công khai sơ thẩm chị Hoàng Thị Q và anh Đinh Tiến L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND Khu vực 1 – Ninh Bình;
  • - Phòng THADS Khu vực 1 – Ninh Bình;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Hoa Lư;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH về ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị Q xin ly hôn anh Đinh tiến L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger