|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày 26-12-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thiện Bửu;
2. Bà Nguyễn Thị Phương Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hữu Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở chính Tòa án nhân dân khu vực 12- Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) và trụ sở 1 Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp (điểm cầu thành phần) tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2025/TLST-HS, ngày 26 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Phan Văn Nu E, sinh ngày 29/8/2003 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phan Văn B, sinh năm 1976 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1980; anh, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Ngày 27 tháng 11 năm 2024, bị Công an phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường A, tỉnh Đồng Tháp) ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn là 01 năm; tiền án: Chưa có; tạm giữ: Ngày 15/8/2025; tạm giam: Từ ngày 21/8/2025 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam H1 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngô Văn B1, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Nơi cư trú: F T, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người chứng kiến: Phạm Văn S, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp L, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
Tại điểm cầu trung tâm, gồm có: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa
Tại điểm cầu thành phần, gồm có: Bị cáo Phan Văn Nu E; cán bộ hỗ trợ tư pháp đồng chí Trần Hoài T và Đinh Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, vào khoảng 11 giờ ngày 15/8/2025, Phan Văn N Em điều khiển xe mô tô biển số 52F7-9578 đến khu vực Quảng trường V (thuộc phường H, tỉnh Đồng Tháp) để mua ma túy của một người thanh niên không rõ lai lịch với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua, Nu E cất ma túy trong bao thuốc Hero đặt phía trước ba-ga xe mô tô rồi đi tìm chỗ để sử dụng.
Khi điều khiển xe từ phường H đến khu vực bến đò Chợ Miễu thuộc ấp L, xã L, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng Công an phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý:
- 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Hero; bên trong bao thuốc có 01 (một) gói giấy kẻ ô ly (giấy tập), trong gói giấy có 01 (một) túi nylon dạng nắp kẹp, viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn nghi là ma túy. Tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2-23004059, trên niêm phong có dấu tròn đỏ của Công an xã L, tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi rõ họ tên: Huỳnh Hoàng M, Lê Văn S1, Phạm Văn S2 và Phan Văn Nu E.
Ngày 19/8/2025, Phòng K Công an tỉnh Đ hoàn trả lại mẫu vật sau giám định 01 (một) túi niêm phong mã số PS2-24088953, trên niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E1, Nguyễn Thành T1, Huỳnh Hoàng M và Phan Văn Nu E.
- Mẫu nước tiểu chứa trong chai nhựa được đậy kín, thu giữ của Phan Văn Nu E, sinh năm 2003, nơi thường trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp, được thu giữ vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 15/8/2025, tại Công an xã L, tỉnh Đồng Tháp, được niêm phong túi niêm phong mã số: PS2-23004063 có đóng dấu tròn màu đỏ của “Công an xã L – Công an tỉnh Đ” và các chữ ký, ghi họ tên: Huỳnh Hoàng M, Lê Văn S1, Phạm Văn S2 và Phan Văn Nu E (đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
- 01 (một) xe mô tô dạng Wave, màu sơn đen – bạc, biển số 52F7-9578. Phan Văn Nu E sử dụng đi mua và cất giấu ma túy. Xe này được Nu E mua lại của Ngô Văn B1 với giá 2.000.000 đồng vào năm 2022, việc mua bán không lập giấy tờ và xe cũng không có giấy đăng ký do bị mất trước đó. Bị cáo Nu E khai nhận không có nhu cầu nhận lại chiếc xe.
Tại Bản kết luận giám định số: 1100/KL-KTHS, ngày 19/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon dạng nắp kẹp có viền màu đỏ, được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2-23004059 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 1,939 gam, loại Methamphetamine (số thứ thự 247 mục IIC Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Phan Văn Nu E khai nhận, khối lượng ma túy bị bắt quả tang là của Nu E mua của một người thanh niên không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể với giá 1.500.000 đồng mục đích đem về để sử dụng.
Kết luận giám định số: 1288/KL-KTHS, ngày 01/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu nước tiểu chứa trong chai nhựa có nắp đậy kín, ghi thu của ông Phan Văn Nu E, sinh năm 2003, được thu giữ vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 15/8/2025 tại Công an xã L, tỉnh Đồng Tháp, được niêm phong nêu trên gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra, Phan Văn Nu E đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại bản cáo trạng số: 17/CT-VKSTPHN, ngày 24 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Phan Văn Nu E về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Phan Văn Nu E đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Văn Nu E về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo Phan Văn N Em mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù; về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Đối với người thanh niên mà Nu E khai là người bán ma túy cho mình, do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong mã số: PS2-24088953 và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E1, Nguyễn Thành T1, Huỳnh Hoàng M và Phan Văn Nu E; Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô dạng Wave, màu sơn đen – bạc, biển số 52F7-9578.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn Nu E đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/8/2025 và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn Nu E đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự, do bị cáo nghiện ma túy và muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, cụ thể: Vào khoảng 11 giờ ngày 15/8/2025, Phan Văn N Em điều khiển xe mô tô biển số 52F7-9578 đi mua ma túy của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 1.500.000 đồng mục đích để sử dụng. Sau khi mua, Nu E mang theo số ma túy đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Phan Văn Nu E khai nhận khối lượng ma tuý bị bắt quả tang là do bị cáo mua với giá 1.500.000 đồng nhằm mục đích sử dụng.
Căn cứ Bản kết luận giám định số 1100/KL-KTHS, ngày 19/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon dạng nắp kẹp có viền màu đỏ, được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2-23004059 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 1,939 gam, loại Methamphetamine.
Căn cứ Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/8/2025 và lời khai nhận của bị cáo.
Như vậy đã có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Phan Văn Nu E đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a) ...;
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội rất nặng nề, nó đang làm hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng, xói mòn sự tồn tại và phát triển của loài người, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình của người sử dụng, gây tác hại trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của xã hội.
Hiện nay, tình trạng tàng trữ ma túy để sử dụng và mua bán trái phép trên cả nước xảy ra ngày càng nhiều với tính chất hết sức phức tạp. Nhằm để ổn định tình hình chính trị tại địa phương, góp phần vào công cuộc phòng chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền án nhưng bản thân bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân phường A, tỉnh Đồng Tháp ra quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Do nghiện mà túy và để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Điều đó thể hiện bị cáo thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[6] Đối với người thanh niên, Nu E khai là người bán ma túy cho mình, do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[7] Về vật chứng vụ án:
Đối với khối lượng ma túy liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong mã số: PS2-24088953 và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E1, Nguyễn Thành T1, Huỳnh Hoàng M và Phan Văn Nu E, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.
Đối với 01 (một) xe mô tô dạng Wave, màu sơn đen – bạc, biển số 52F7-9578. Phan Văn Nu E sử dụng đi mua ma túy về sử dụng. Qua điều tra, xe này được Nu E mua lại của Ngô Văn B1 với giá 2.000.000 đồng vào năm 2022, việc mua bán không lập giấy tờ và xe cũng không có giấy đăng ký do bị mất trước đó và hiện nay anh Ngô Văn B1 không có yêu cầu gì đối với xe này. Hội đồng xét xử xét thấy, chiếc xe trên bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp pháp luật.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tuyên bố bị cáo Phan Văn Nu E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phan Văn N Em 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2025.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong mã số: PS2-24088953 và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E1, Nguyễn Thành T1, Huỳnh Hoàng M và Phan Văn Nu E.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô dạng Wave, màu sơn đen – bạc, biển số 52F7-9578 đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2025).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phan Văn N Em phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/12/2025). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
