|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG Bản án số: 479/2025/DSST-ST Ngày 23/12/2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Văn Đời
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thái Phương Dung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 166/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2025/QĐXXST-DSST ngày 24/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 146/2025/QĐST-DS ngày 10/12/2025, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.Địa chỉ: Tòa V, số H L, phường Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D. Chức vụ: Chủ tịch HĐQT. Người đại diện uỷ quyền: Ông Nguyễn Hồng B. Trưởng phòng (Theo Văn bản uỷ quyền số: 30/2025/UQN-CTQT ngày 28/7/2025 của Chủ tịch HĐQT). Uỷ quyền lại cho: Ông Lê Văn T và bà Lê Thị Thảo N (Theo Văn bản uỷ quyền số:1252/2025/UQN-CTQT ngày 01/8/2025). Địa chỉ liên hệ: Tầng D, số A P, phường H, thành phố Đà Nẵng.
*Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T1, Sinh năm: 1994. Địa chỉ: H đường H, phường S, thành phố Đà Nẵng. vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 23/02/2023, bà Nguyễn Thị Thu T1 đã kí kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng và đăng kí sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử với Ngân hàng TMCP V (V1), thông tin cụ thể như sau: Số tiền vay/hạn mức cấp thẻ ban đầu: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân; Thời hạn vay: 60 tháng;Lãi suất tại thời điểm vay (lãi suất trong hạn): 3,99%/tháng;
Theo đó, các bên cam kết đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Bản Điều kiện giao dịch chung về cấp tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại V1. Căn cứ vào thu nhập của bà Nguyễn Thị Thu T1, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân cho bà Nguyễn Thị Thu T1. Quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày khởi kiện, bà Nguyễn Thị Thu T1 đã được nâng hạn mức thẻ, hạn mức gần nhất được nâng là 39.000.000 đồng (Ba mươi chín triệu đồng). Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Thu T1 đã thực hiện 63 giao dịch bao gồm giao dịch mua hàng với tổng số tiền 112.697.490 đồng và đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 98.458.584 đồng (trong đó: gốc đã trả là 74.044.211 đồng và lãi đã trả là 24.414.373 đồng), sau đó bà Nguyễn Thị Thu T1 không thanh toán cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch, sao kê hàng tháng.
Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 8 Phần D của Bản Điều kiện giao dịch chung về cấp tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại V1) từ ngày 23/03/2025 đối với V1 nên phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký (cụ thể là theo Khoản 3 Điều 6 Phần D của Bản Điều kiện giao dịch chung về cấp tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại V1).
Tạm tính đến ngày 10/12/2025, bà Nguyễn Thị Thu T1 còn nợ V1 tổng số tiền là: Nợ gốc: 38.653.279 đồng; Nợ lãi: 19.858.223 đồng; Tổng cộng: 58.511.502 đồng. (Năm mươi tám triệu, năm trăm mười một nghìn, năm trăm lẻ hai đồng).
Hiện V1 cam kết chưa bán khoản vay của ông/bà Nguyễn Thị Thu T1 cho bất kì công ty/tổ chức nào. Việc bà Nguyễn Thị Thu T1 không thanh toán tiền cho V1 là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận thanh toán, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của V1. Vì vậy, V1 kính đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng giải quyết các yêu cầu sau: Buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 thanh toán cho V1 số tiền nợ tạm tính đến ngày 10/12/2025 là: 58.511.502 đồng. (Năm mươi tám triệu, năm trăm mười một nghìn, năm trăm lẻ hai đồng), trong đó:Nợ gốc : 38.653.279 đồng; nợ lãi: 19.858.223 đồng và tiếp tục tính lãi suất theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từ ngày 11/12/2025 cho đến ngày thực tế ông/bà Nguyễn Thị Thu T1 thanh toán hết nợ cho V1.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của bà Nguyễn Thị Thu T1 trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 Đà Nẵng:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ thụ lý cho đến phiên toà xét xử. Nguyên đơn chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
-Về nội dung vụ án: căn cứ Điều 100, 103 Luật Tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 280, Điều 463, Điều 466 BLDS.
Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ không dùng tiền mặt” của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bà Nguyễn Thị Thu T1.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 phải trả cho V2 số tiền nợ tính đến ngày 10/12/2025 là: 58.511.502 đồng. (Năm mươi tám triệu, năm trăm mười một nghìn, năm trăm lẻ hai đồng), trong đó:Nợ gốc : 38.653.279 đồng; nợ lãi: 19.858.223 đồng và tiếp tục tính lãi suất theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từ ngày 11/12/2025 cho đến ngày bà Nguyễn Thị Thu T1 thanh toán hết nợ cho V1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V và bà Nguyễn Thị Thu T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2-Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị Thu T1 là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thu T1.
[2] Về nội dung vụ án:
Ngày 06/3/2023, bà Nguyễn Thị Thu T1 ký có đề nghị mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP V (V1). Theo đó hai bên cam kết đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cùng với mẫu đơn này tạo nên hợp đồng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Ngân hàng TMCP V đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Thị Thu T1 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng dưới hình thức hạn mức tín dụng để thanh toán, tiêu dùng. Bà Nguyễn Thị Thu T1 được Ngân hàng thông báo về mức lãi suất cụ thể là 3,99%/tháng (Lãi suất trong hạn) và được V1 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N1 về lãi suất cho vay.
Căn cứ vào thu nhập của bà Nguyễn Thị Thu T1, V1 đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 30.000.000 đồng với mục đích thanh toán, tiêu dùng cho bà Nguyễn Thị Thu T1. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà T1 đã được nâng hạn mức thẻ là 39.000.000 đồng. Từ ngày 21/03/2023 đến ngày 21/01/2025, bà Nguyễn Thị Thu T1 đã thực hiện các giao dịch bằng thẻ với tổng số tiền là 112.697.490 đồng. Bà Nguyễn Thị Thu T1 đã thanh toán cho V1 số tiền 98.458.584 đồng, bao gồm số tiền gốc: 74.044.211 đồng; lãi: 24.414.373 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 8 phần D của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V1).
Từ ngày 23/3/2025, bà Nguyễn Thị Thu T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên V1 đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng không nhận được sự hợp tác trả nợ từ bà T1. Việc vi phạm nghĩa vụ của bà T1 như trên đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của V1. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 21/6/2025 V1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. (Căn cứ theo khoản 3 Điều 6 phần D của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V1).
Tính đến ngày 10/12/2025, bà Nguyễn Thị Thu T1 còn nợ V1 số tiền 58.511.502 đồng, trong đó nợ gốc thẻ: 38.653.279 đồng; nợ lãi: 19.858.223 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 21/02/2025 cho đến khi bà Nguyễn Thị Thu T1 thanh toán hết các nghĩa vụ cho V1;
[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng mở thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với bà Nguyễn Thị Thu T1 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
Quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 23/3/2025, bà T1 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo thông báo. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Ngày 21/6/2025, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn; tính đến ngày 10/12/2025, bà T1 còn nợ Ngân hàng số tiền là 58.511.502 đồng, trong đó nợ gốc thẻ: 38.653.279 đồng; nợ lãi: 19.858.223 đồng. HĐXX xét thấy: bà Nguyễn Thị Thu T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 08 phần D của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng như đã ký kết. Việc khởi kiện của V1 yêu cầu Tòa án buộc bà T1 phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp Điều 100, Điều 103 Luật Tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 280, Điều 463, Điều 466 BLDS; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016; điểm b, khoản 1 Điều 14 Nghị định 101/2021/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt nên cần được chấp nhận.
[4] Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 11/12/2025 trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng V1 kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ký ngày 23/02/2023 cho đến khi bà T1 thanh toán xong khoản nợ.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V được chấp nhận nên bị đơn là bà T1 phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể số tiền bà T1 phải chịu là 2.925.575 đồng (hai triệu, chín trăm hai mươi lăm ngàn, năm trăm bảy mươi lăm đồng)
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 463, Điều 466 BLDS; Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
- Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bà Nguyễn Thị Thu T1.
Tuyên xử:
- Buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tính đến ngày 10/12/2025 là: 58.511.502 đồng. (Năm mươi tám triệu, năm trăm mười một nghìn, năm trăm lẻ hai đồng), trong đó: nợ gốc là 38.653.279 đồng; nợ lãi: 19.858.223 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 11/12/2025 theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng và đăng kí sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử đã ký ngày 23/02/2023 cho đến khi bà Nguyễn Thị Thu T1 thanh toán hết các khoản nợ.
- Án phí dân sự sơ thẩm: 2.925.575 đồng (hai triệu, chín trăm hai mươi lăm ngàn, năm trăm bảy mươi lăm đồng) bà Nguyễn Thị Thu T1 phải chịu.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí 1.269.889 đồng (Một triệu, hai trăm sáu mươi chín ngàn, tám trăm tám mươi chín đồng) theo biên lai thu số 0002650 ngày 01/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thanh Thủy |
Bản án số 479/2025/DSST-ST ngày 23/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
- Số bản án: 479/2025/DSST-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Việt Nam TV kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Nguyễn Thị Thu Th
