Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - PHÚ THỌ

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tuấn Chiến;
  2. Ông Nguyễn Đức Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoan - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh ngày: 29/06/1991, tại xã Đ, tỉnh Phú Thọ; tên gọi khác: không; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khu F H, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Phạm Ngọc C, sinh năm 1962 ở khu F H, xã Đ, tỉnh Phú Thọ và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970, ở khu F H, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; có vợ: Đặng Phương T1, sinh năm 1994 ở khu F H, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; có 2 con: lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019;

Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án số 02 ngày 15/01/2018, Phạm Văn T bị TAND huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt về tội “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền 11.000.000 đồng, buộc nộp án phí 200.000 đồng, cho đến thời điểm thực hiện hành vi “đánh bạc” ngày 06/8/2025, T đã nộp án phí 200.000 đồng, chưa nộp số tiền phạt 11.000.000 đồng, nên chưa được xóa án tích;

Tiền sự: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, tỉnh Phú Thọ cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm, giải quyết xong vụ án. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phạm Đức T2, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khu D, xã Đ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt);
  2. Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khu E, xã Đ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt);
  3. Anh Trần Tuấn A, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khu D, xã Đ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu B, xã Đ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/8/2025, tổ công tác thuộc Công an xã Đ, tỉnh Phú Thọ phát hiện tại nhà ở của Phạm Đức T2, sinh năm 1981 ở khu D Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ, có 04 đối tượng gồm: Phạm Đức T2, Phạm Văn T, sinh năm 1991 ở khu F H, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1991 ở khu E Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; Trần Tuấn A, sinh năm 1980 ở khu D Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ đang đánh bạc dưới hình thức đánh liêng được thua bằng tiền, với tổng số tiền trên chiếu bạc là 3.145.000 đồng. Công an xã Đ đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ 52 quân bài tú lơ khơ, 01 mành cọ, số tiền 3.145.000 đồng trên chiếu bạc và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. Quá trình xác minh, giải quyết tin báo xác định trong 04 đối tượng đánh bạc trên có 01 đối tượng là Phạm Văn T đang có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” cụ thể: Tại Bản án số 02 ngày 15/01/2018, Phạm Văn T bị TAND huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt về tội “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền 11.000.000 đồng, buộc nộp án phí 200.000 đồng. Tuy nhiên đến thời điểm đánh bạc ngày 06/8/2025, T đã nộp án phí 200.000 đồng, chưa nộp số tiền phạt 11.000.000 đồng nêu trên, nên chưa được xóa án tích.

Ngày 18/8/2025, Công an xã Đ đã ra Quyết định số 01/QĐ-HS chuyển toàn bộ hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm trên cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) - Công an tỉnh P để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 20/8/2025, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Phạm Văn T để điều tra về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan CSĐT, các đối tượng Phạm Văn T, Phạm Đức T2, Trần Tuấn A, Nguyễn Ngọc H khai nhận hành vi đánh bạc của bản thân như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 06/8/2025 Phạm Văn T đến nhà Phạm Đức T2 chơi, khi đến thì thấy Trần Tuấn A đi qua, nên T gọi Anh vào nhà T2 chơi. Sau đó có Nguyễn Ngọc H đến nhà T2 uống nước. Tiếp sau đó có Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985, ở khu B Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ cũng đến nhà T2 uống nước. Đến khoảng 10 giờ kém 15 phút, T rủ mọi người đánh bạc dưới hình thức chơi liêng, mọi người đồng ý. T2 đóng cửa nhà lại, chốt cửa phía trong và cùng nhau xuống gian nhà bếp của gia đình T2, T lấy bộ bài T3 lơ khơ đặt trên nóc tủ lạnh trong gian bếp nhà T2 có từ trước để cùng mọi người đánh bạc. Tại gian nhà bếp nhà T2 có trải sẵn 01 chiếc mành cọ từ trước. Tại đây, T, T2, H, Anh thống nhất đánh bạc được thua bằng tiền, dưới hình thức đánh liêng bằng bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Các đối tượng thống nhất với nhau từng ván mỗi người đóng vào 20.000 đồng (đóng gà), quá trình chơi mọi người có thể đóng thêm tiền vào (tố thêm) hoặc bỏ bài, sau mỗi ván ai thắng sẽ được ăn hết số tiền đó. Các đối tượng thống nhất cách tính điểm như sau: các bài lá từ A đến 9 được tính theo giá trị từ 1 đến 9, các lá 10, J, Q, K được tính là 0 điểm. Mỗi người được chia 03 lá bài, điểm được tính bằng cách cộng tổng số điểm với nhau, chỉ lấy số hàng đơn vị nếu ai được điểm cao hơn thì người đó thắng (điểm 9 là to nhất); Nếu ai được 03 quân bài đầu người (J, Q, K) không cần liên tiếp nhau thì được gọi là “Ảnh”, ảnh to hơn điểm; nếu ai được 03 quân bài liên tiếp nhau (không cùng chất) thì được gọi là “Liêng”, liêng to hơn ảnh; nếu ai được 03 quân bài liên tiếp nhau (cùng chất) thì gọi là “Đồng hoa” thì mỗi người còn lại phải chịu 100.000 đồng; ai được 03 quân bài cùng một số thì gọi là “Sáp” thì mỗi người còn lại phải chịu 200.000 đồng. Sau mỗi ván bạc ai thua phải trả bằng tiền mặt cho người thắng theo quy ước trên. Quá trình T, T2, H, Anh đánh bạc, H1 chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc cùng. Các đối tượng đánh bạc đến 10 giờ 30 phút thì Công an xã Đan Thượng phát hiện lập biên bản như trên.

Các đối tượng khai nhận về số tiền mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc như sau: Phạm Văn T có khoảng 800.000 đồng sử dụng để đánh bạc, khi bị cơ quan Công an phát hiện thì T đang thua, tiền dưới chiếu của T còn hơn 500.000 đồng; Phạm Đức T2 có 800.000 đồng để đánh bạc, khi bị cơ quan Công an phát hiện T2 không nhớ còn bao nhiêu tiền, số tiền vẫn để trên chiếu bạc; Trần Tuấn A có 450.000 đồng để đánh bạc, khi bị cơ quan Công an phát hiện, Anh thua 40.000 đồng, còn 410.000 đồng; Nguyễn Ngọc H khai có 1.080.000 đồng sử dụng vào đánh bạc, khi bị cơ quan Công an phát hiện H còn 800.000 đồng, tiền H dùng để đánh bạc vẫn để trên chiếu bạc. Tổng số tiền mà các đối tượng khai nhận mang đi và sử dụng vào việc đánh bạc là khoảng 3.130.000 đồng.

Đối với T2, A, H tham gia đánh bạc cùng T với tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng này đều chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Ngày 15/9/2025, Công an xã Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV5 ngày 31 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ đã truy tố bị cáo Phạm Văn T ra trước Tòa án nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo T từ 18-24 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo T. Buộc Phạm Văn T còn phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 3.145.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm 01 mành cọ, 52 quân bài T3 lơ khơ.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ đã nêu. Lời khai nhận tội của Phạm Văn T phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, không có lời bào chữa mà chỉ xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là sai, bị cáo cảm thấy rất ăn năn hối hận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất, để bị cáo có thể tiếp tục lao động, chăm lo cho gia đình, nuôi hai con nhỏ ăn học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Đức T2, anh Nguyễn Ngọc H, anh Trần Tuấn A, người làm chứng là anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong giai đoạn điều tra, sự vắng mặt này không cản trở đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên là đúng quy định pháp luật.

[3] Lời khai của bị cáo Phạm Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 09 giờ 00 phút đến 10 giờ 30 phút ngày 06/8/2025, tại nhà ở của Phạm Đức T2, tại khu D Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ, 04 đối tượng gồm: Phạm Đức T2, Phạm Văn T, Nguyễn Ngọc H, Trần Tuấn A đánh bạc dưới hình thức đánh liêng được thua bằng tiền, số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc và bị thu giữ trên chiếu bạc là 3.145.000 đồng.

Mặc dù số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng Phạm Văn T có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, vì vậy, hành vi đánh bạc lần này của Phạm Văn T đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[4] Về tội danh: Hành vi đánh bạc của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng là khách thể được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc trái phép là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện bằng hình thức chơi liêng với lỗi cố ý trực tiếp. Xét thấy hành vi nêu trên của Phạm Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm,

thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ truy tố đối với Phạm Văn T theo nội dung bản Cáo trạng đã nêu là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt, mặc dù đã bị xét xử về tội “đánh bạc” chưa chấp hành xong hình phạt, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” nhưng đây thuộc tình tiết được quy định là dấu hiệu định tội nên không áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trong quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo đã ủng hộ Quỹ người nghèo năm 2025 tại địa phương xã Đ, tỉnh Phú Thọ để góp một phần giúp đỡ các gia đình hộ nghèo trong địa bàn xã bớt đi khó khăn (có xác nhận và Phiếu thu tiền của Mặt trận Tổ quốc xã Đ, tỉnh Phú Thọ). Vì vậy bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, được thực hiện với lỗi cố ý.

[8] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian bị cáo được tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và chính quyền địa phương. Mặt khác bản thân bị cáo là người lao động đi làm thuê để kiếm tiền nuôi sống bản thân và hai con còn nhỏ đang độ tuổi đến trường. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ sức giáo dục, răn đe, cải tạo riêng cho bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội; tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại nơi cư trú dưới sự giám sát của gia đình, chính quyền địa phương, giúp bị cáo tiếp tục được lao động kiếm tiền nuôi dạy các con ăn học, đảm bảo tính nhân văn của pháp luật hình sự và để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, cố gắng cải tạo tốt để trở thành người có ích cho xã hội.

Xét thấy bị cáo lao động tự do, công việc, thu nhập không ổn định, hiện đang ở cùng bố mẹ, không có tài sản gì nên miễn khấu trừ thu nhập cho Phạm Văn T là phù hợp, tuy nhiên bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét điều kiện thực tế: bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, gia đình có 02 con chưa thành niên, nên xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 mành cọ, 52 quân bài T3 lơ khơ xét là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 3.145.000 đồng là số tiền trực tiếp liên quan đến đánh bạc, xét cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Các đối tượng liên quan và các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với Phạm Đức T2 đã để cho các đối tượng tham gia đánh bạc tại nhà của mình, tuy nhiên việc các đối tượng đánh bạc là do tự rủ nhau chơi, T2 có tham gia đánh bạc nhưng không có đứng ra tổ chức hay thu tiền; Tổng số tiền mà các đối tượng khai nhận mang đi và sử dụng vào việc đánh bạc là khoảng 3.130.000 đồng, do các đối tượng không nhớ chính xác được số tiền bỏ ra đánh bạc. Tuy nhiên, thực tế số tiền 3.145.000 đồng mà cơ quan Công an thu giữ tại chiếu bạc, T, T2, H, A khai nhận: đó là tiền các đối tượng đang dùng để đánh bạc vì vậy, các đối tượng phải chịu trách nhiệm về số tiền sử dụng đánh bạc là 3.145.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, Phạm Đức T2, Nguyễn Ngọc H, Trần Tuấn A không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc do vậy, hành vi của ba người này không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự. Công an xã Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2, H, A là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn H1 chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc nên không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.

[12] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015:

    Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

    Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. (Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự). Gia đình Phạm Văn T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ trong việc giám sát, giáo dục T.

    Buộc Phạm Văn T còn phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. (Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần).

    Phạm Văn T phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

    Miễn hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo T.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 3.145.000 đồng (theo Ủy nhiệm chi số 30 ngày 06/11/2025 Công an xã Đ chuyển cho Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 mành cọ, 52 quân bài T3 lơ khơ (theo “Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng” ngày 03/11/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã bàn giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Phú Thọ).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật) đến Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; người có QL, NVLQ;
  • - VKSND KV5 - Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng THADS khu vực 5 - Phú Thọ;
  • - UBND xã Đan Thượng, tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - PHÚ THỌ về hình sự, tội đánh bạc

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự, Tội đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger