TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH ________________ Bản án số: 47/2025/HNGĐ - ST Ngày: 24 tháng 12 năm 2025 V/v ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng
Ông Phạm Ngọc Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Đức Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐHPT-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964
Địa chỉ: thôn Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Bà Dương Thị N1, sinh năm 1965
Nơi ĐKHKTT: thôn T, phường T, tỉnh Ninh Bình (Bà N1 hiện đã xuất cảnh ra nước ngoài).
Tại phiên tòa: có mặt ông N, vắng mặt bà N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 4 năm 2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Ông N và bà Dương Thị N1 được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ ông N ở thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Đến năm 2001, ông N vào miền nam lập nghiệp và sinh sống, bà N1 vẫn ở nhà. Thời điểm ông N vào miền nam, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, sau đó vợ chồng xa cách, sống ly thân, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không nói chuyện, không hỏi han, quan tâm chăm sóc nhau. Từ khi vào miền nam, ông N chỉ về nhà đúng ba lần vào dịp đám cưới các con. Đến năm 2021 ông N từ miền nam về Ninh Bình nhưng cuộc sống hôn nhân không cải thiện được. Vợ chồng vẫn sống ly thân, không quan tâm đến nhau, việc ai người đó làm. Năm 2022 bà N1 sang Hoa Kỳ sinh sống cùng con gái nhưng không cung cấp địa chỉ cho ông N. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên, các con khuyên bảo, hàn gắn nhưng không được, mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích của hôn nhân không đạt được, ông N đề nghị giải quyết cho được ly hôn với bà N1.
Về con chung: Ông N, bà N1 có ba con chung là anh Nguyễn Trọng A sinh ngày 12/9/1987, chị Nguyễn Thị Thanh V, sinh ngày 7/4/1990, anh Nguyễn Đức T sinh ngày 19/6/1992. Cả ba con đã trưởng thành, tự lập được cuộc sống nên ông N không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt cho bà Dương Thị N1 thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, thông báo phiên họp phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bà N1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến Toà án làm việc theo nội dung triệu tập.
Tại Văn bản số 432/XNC ngày 10/9/2025 của Phòng Q trao đổi thông tin xuất nhập cảnh của công dân thể hiện: Bà Dương Thị N1 (sinh ngày 03/02/1965, HKTT tại phường H, tỉnh Ninh Bình, CCCD số 037165003179) đã sử dụng cuốn hộ chiếu số Q00376480 (cấp ngày 31/01/2024) để xuất cảnh ra khỏi lãnh thổ quốc gia Việt Nam lần gần nhất ngày 01/8/2025, qua sân bay quốc tế N, thành phố Hà Nội, để xuất cảnh đến Hồ N (Trung Quốc), hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam.
Tại Biên bản xác minh ngày 4/8/2025, Trưởng thôn T, phường T, tỉnh Ninh Bình cung cấp: Ông Nguyễn Văn N và bà Dương Thị N1 là vợ chồng. Khoảng đầu năm 2000 ông N đi vào miền nam sinh sống, rất ít khi về nhà. Đầu năm 2020 bà N1 được con gái bảo lãnh sang và sinh sống tại Hoa Kỳ. Từ đó bà N1 ít khi về Việt Nam. Ông N, bà N1 mỗi người một nơi rất hiếm khi thấy xuất hiện cùng nhau. Ông N, bà N1 có 03 con chung là anh Nguyễn Trọng A, chị Nguyễn Thị Thanh V và anh Nguyễn Đức T đều đã trưởng thành, lập gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ; chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình nghiên cứu đúng thời gian; trình tự thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về việc thực hiện quyền nghĩa vụ, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N về việc ly hôn. Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Văn N và bà Dương Thị N1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền: Ông Nguyễn Văn N khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Dương Thị N1, đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn bà Dương Thị N1 có nơi cư trú và đang sinh sống tại phường T, tỉnh Ninh Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên toà bị đơn bà Dương Thị N1 vắng mặt không có lý do, bà N1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Toà án xét xử vắng mặt bà N1 theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N và bà Dương Thị N1 kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Theo ông N trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng ông N, bà N1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, từ năm 2001 ông N vào miền nam làm ăn sinh sống, từ đó vợ chồng sống ly thân, ông N chỉ về nhà vào dịp con cái lấy vợ, lấy chồng. Từ khi ly thân vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, không cùng thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho bà N1 nhưng bà N1 không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sau đó xuất cảnh ra nước ngoài. Sau khi nhận được văn bản cung cấp của Phòng quản lý xuất nhập cảnh công an tỉnh N, Toà án nhân dân khu vực 1 đã nhiều lần làm việc với con chung của ông N, bà N1 là anh Nguyễn Trọng A và anh Nguyễn Văn T1 yêu cầu cung cấp địa chỉ của bà N1, yêu cầu tống đạt văn bản tố tụng cho bà N1 nhưng anh Trọng A và anh T1 từ chối cung cấp địa chỉ của bà N1, từ chối nhận văn bản tố tụng của Toà án.
Tại Biên bản xác minh ngày 4/8/2025, Trưởng thôn T, phường T, tỉnh Ninh Bình cung cấp: Khoảng đầu năm 2000 thì ông N đi vào miền nam sinh sống, rất ít khi về nhà. Đầu năm 2020 bà N1 được con gái bảo lãnh sang và sinh sống tại Hoa Kỳ. Từ đó bà N1 ít khi về Việt Nam. Ông N, bà N1 mỗi người một nơi rất hiếm khi thấy xuất hiện cùng nhau.
Qua lời khai của các đương sự, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, biên bản xác minh do Tòa án thu thập được cho thấy: Trong quá trình chung sống giữa ông Nguyễn Văn N và bà Dương Thị N1 đã phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, ông N, bà N1 sống ly thân từ năm 2002 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, chia sẻ, chăm sóc nhau, không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng. Lời khai của ông N phù hợp với cung cấp của Trưởng thôn tây phường T, tỉnh Ninh Bình. Từ thời điểm sống ly thân đến nay, ông N, bà N1 đều không có giải pháp để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng, mỗi người vẫn sống một nơi, không quan tâm đến nhau. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông N và bà N1 đã kéo dài và ngày càng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân đã lâu, không còn khả năng hàn gắn lại tình cảm. Ông N xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với bà N1 là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Ông N và bà N1 có ba con chung là anh Nguyễn Trọng A sinh ngày 12/9/1987, chị Nguyễn Thị Thanh V, sinh ngày 7/4/1990, anh Nguyễn Đức T sinh ngày 19/6/1992. Anh Trọng A, chị V, anh T đã trưởng thành, tự lập được cuộc sống, ông N không yêu cầu giải quyết về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và công nợ chung: Ông Nguyễn Văn N không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, cho ly hôn giữa ông Nguyễn Văn N và bà Dương Thị N1. Quan hệ hôn nhân của ông Nguyễn Văn N và bà Dương Thị N1 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn N.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Diệu Oanh (Đã ký) |
Bản án số 47/2025/HNGĐ - ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 47/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông N khởi kiện yêu cầu ly hôn bà N1 do mâu thuẫn vợ chồng đã lâu, cuộc sống không có hạnh phúc
