TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 47/2025/DS-ST
Ngày: 25/12/2025.
“V/v Tranh chấp xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tô Phú Mỹ
2. Bà Phan Cát Chiêu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bạch Nhạn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2025/TLST-DS ngày 14/10/2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-DS ngày 20/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 114/2025/QĐST-DS ngày 08/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Huyền T, sinh năm 1977; Căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: Số H, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; Điện thoại: 0704.738.xxx (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 18/11/2025).
- Bị đơn: Nguyễn Quốc K, sinh năm 1979; Căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; Điện thoại: 0939.901.xxx (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Huyền T trình bày:
Chị T và anh K quen biết nhau tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới năm 2010, có đăng ký kết hôn và được UBND xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 492 ngày 22/11/2002. Sau khi kết hôn chị T và anh K về sống nhờ nhà cha mẹ ruột của K tại: Tổ H, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; Sau đó về sống nhờ nhà cha mẹ ruột của chị T tại: Số H, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
Thời gian đầu thì chị T và anh K chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc, thường xuyên cải vã, ngoài ra anh K có quen nhiều người phụ nữ khác, chị T có khuyên can nhưng anh K không nghe mà còn đánh chị T (việc chị T bị đánh thì không có báo chính quyền địa phương). Chị T sống ly thân với anh K từ khi năm 2020 cho đến nay. Chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn.
Chị Thương cảm T1 vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm không còn, tính tình không phù hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh K.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có hai con chung tên Nguyễn Quốc Q, sinh ngày 05/10/1997 và Nguyễn Trần Anh T2, sinh ngày 03/8/2004. Hiện nay hai con đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Trần Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Quốc K vắng mặt và không có ý kiến trình bày:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn anh Nguyễn Quốc K không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tốtụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo hướng:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Huyền T và anh Nguyễn Quốc K. Chị Trần Huyền T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
- Về con chung: Chị T trình bày có 02 con chung tên Nguyễn Quốc Q, sinh năm 05/10/1997 và Nguyễn Trần Anh T2, sinh năm 03/8/2004. Hiện nay 02 con đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Chị Trần Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về nợ chung: Chị Trần Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Thương yêu C ly hôn với anh K. Anh K có nơi cư trú tại: xã P, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đìnhHội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp xin ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.
[2] Về việc vắng mặt đương sự: Chị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 18/11/2025, anh Nguyễn Quốc K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa ngày 08/12/2025, tại phiên tòa lần hai ngày 25/12/2025 anh K vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị T và anh K là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về hôn nhân: Chị T và anh K do quen biết nhau tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới năm 2010, có đăng ký kết hôn và được UBND xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 492 ngày 22/11/2002. Sau khi kết hôn thì chị T và anh K về sống nhờ nhà cha mẹ ruột của K tại: Tổ H, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; Sau đó về sống nhờ nhà cha mẹ ruột của chị T tại: Số H, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp. Theo chị T trình bày thời gian đầu thì chị T và anh K chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc, thường xuyên cải vã, anh K có quen nhiều người phụ nữ khác, chị T có khuyên can nhưng anh K không nghe mà còn đánh chị T (việc chị T bị đánh thì không có báo chính quyền địa phương). Chị T sống ly thân với anh K từ khi năm 2020 cho đến nay, chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn, vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm không còn, tính tình không phù hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh K. Theo Công văn số 402/CAX ngày 11/11/2025 của Công an xã P xác định anh K có đăng ký thường trú và có mặt tại địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh K, đồng thời Tòa án có thông báo ngày 31/10/2025; 18/11/2025 thể hiện nội dung chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh K biết nhưng anh K không đến Tòa án và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Từ đó có thể thấy được tình cảm vợ chồng của chị T và anh K không còn nữa, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn, vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở, nên chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị T trình bày có hai con chung tên: Nguyễn Quốc Q, sinh ngày 05/10/1997 và Nguyễn Trần Anh T2, sinh ngày 03/8/2004. Chị T trình bày hai con đã trưởng thành tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[5]. Về tài sản chung: Chị Trần Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[6]. Về nợ chung: Chị Trần Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Huyền T được chấp nhận nên Chị T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[8] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Q1 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Huyền T.
Chị Trần Huyền T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có hai con chung tên Nguyễn Quốc Q, sinh ngày 05/10/1997 và Nguyễn Trần Anh T2, sinh ngày 03/8/2004. Hiện nay hai con đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Chị Trần Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Chị Trần Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Trần Huyền T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị Trần Huyền T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004655 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp được trừ vào án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Trần Huyền T phải chịu (chị T đã nộp xong án phí)
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Nhân |
Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 47/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
