Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 46/2026/HS-PT
Ngày: 05 - 02 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình.
  • Các Thẩm phán:
    1. Ông Trần Minh Quang;
    2. Bà Đinh Thị Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Biện Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 371/2025/HS-PT ngày 17/12/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, về tội “Trộm cắp tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2025/HS-ST ngày 06/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T - Sinh ngày 13/11/1989, tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai); số Căn cước công dân: 052089000715, cấp ngày 13/4/2021.

Nơi thường trú: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là xã X, tỉnh Gia Lai); nơi tạm trú: Số H đường S, tổ dân phố I, phường E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1963; bị cáo có vợ là Trần Thị N, sinh năm 1994 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Xuân T1 và Luật sư Trần Việt T2 - Công ty L1 - Đoàn Luật sư thành phố H (Luật sư T2 có mặt, Luật sư T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị hại: Ông Trương Tuấn N1, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A đường V, phường E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Đăng L, sinh năm 1991 và bà Võ Thị H, sinh năm 1994; cùng địa chỉ: B đường P, phường E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt;
  2. Bà Trần Thị N, sinh năm 1994; địa chỉ: Số H S, phường E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Y Hiếu Buôn K nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/3/2025, Nguyễn Văn T thỏa thuận với Y Tứ N2, sinh ngày 22/10/2011, trú tại: 5 L, phường E, tỉnh Đắk Lắk, đi trộm cắp cây mai của nhà anh Trương Tuấn N1, địa chỉ 1 V, phường E, tỉnh Đắk Lắk, sau đó T sẽ mua lại cây mai với giá 1.500.000 đồng, thì Y Tứ N2 đồng ý.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 25/3/2025, Y Tứ N2, Y RôSa Ayun (sinh ngày 27/12/2011), Y Mi Sô A (sinh ngày 28/02/2014) và Ayùn Hồ Phúc Đ (sinh ngày 22/07/2009), cùng trú tại buôn A, phường E, tỉnh Đắk Lắk, rủ nhau đến trộm cắp cây mai của nhà anh N1. Sau đó, Y Tứ N2, Y RôSa A, Y Mi S, Ayùn Hồ Phúc Đ đi bộ đến địa chỉ H S, phường E, tỉnh Đắk Lắk, gặp Nguyễn Văn T để mượn xe mô tô, mục đích để đi trộm cắp tài sản, thì T không đồng ý, nên Y Tứ N2, Y Rô Sa A1, Y M1 Sô A1 và Ayùn Hồ Phúc Đ đi bộ về nhà Y Rô Sa A1 tại ngã ba đường P, phường E, tỉnh Đắk Lắk để chơi. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, Y Tứ N2, Y Rô Sa A1, Y Mi Sô A và Ayùn Hồ Phúc Đ đi bộ đến nhà anh Trương Tuấn N1, dùng tay nhổ trộm 01 cây mai vàng, thân gỗ, đường kính gốc 40cm, chiều cao 1,8m, chiều rộng 1,5m. Sau khi trộm cắp được cây mai, thì Y Tứ N2, Y Rô Sa A1, Y M1 Sô A1 và Ayùn Hồ Phúc Đ cùng nhau mang cây mai đến bãi đất trống tại khu vực đường P, phường E, tỉnh Đắk Lắk để cất giấu. Một lúc sau, Y Hiếu Buôn K, sinh ngày 31/8/2004, trú tại Buôn A, phường E, tỉnh Đắk Lắk, điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 47AD - 199.67 chở Ayùn Hồ Phúc Đ, sinh ngày 01/6/2011, trú tại Buôn A, phường E, tỉnh Đắk Lắk, đến khu vực ngã ba đường P cùng nhóm của Y Tứ N2. Tại đây, Y Rô Sa A1 kể cho Y H1 và D biết việc vừa trộm cắp cây mai của anh N1 và nói Y H1 và D đi gọi T đến mua cây mai thì Y H1 và D đồng ý. Y H1 điều khiển xe mô tô biển số 47AD - 199.67 chở D đi đến nhà T, khi gặp T, thì D và Y H1 nói cho T biết việc nhóm của Y T3 trộm cắp được cây mai và nói T đến chở thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô màu vàng (không rõ biển số xe) đi đến ngã ba đường P chở Y Rô S đi xem cây mai rồi quay lại ngã ba P. Tại đây, T thỏa thuận với nhóm của Y Rô S trả trước số tiền 600.000 đồng thì nhóm của Y Rô S đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe ô tô biển số 77C - 237.44, một mình đi đến khu vực bãi đất trống để chở cây mai về nhà tại địa chỉ H S, phường E, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi T chở cây mai, Y Rô S nói Y H1 đi đến nhà T lấy số tiền 600.000 đồng, thì Y H1 đồng ý. Sau khi lấy được số tiền 600.000 đồng, Y H1 đưa cho Y Rô S, Y H1 không hưởng lợi gì. Số tiền có được Y Tứ N2, Y Rô Sa A1, Y Mi Sô A và Ayùn Hồ Phúc Đ chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tạm giữ các đồ vật, tài sản gồm: 01 cây hoa mai vàng, thân gỗ, đã cắt cành không có lá, đường kính gốc 40cm, cây gồm hai thân, mỗi thân có đường kính gốc 20cm, chiều cao cây 1,8m, chiều rộng cây 1,5m; 01 xe Ô tô tải biển kiểm soát 77C-237.14, nhãn hiệu TATA, màu sơn xanh và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 77 000351; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe WaveA, màu sơn xám trắng, biển kiểm soát 47AD-199.67 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47025885; tạm giữ của Y Rô Sa A2, Y Tư N3, Y Mi Sô A3 và Ayũn Hồ Phúc Đ số tiền 600.000 đồng; 01 USB chứa tập tin tên “Video 1” ghi lại nội dung vụ việc, là các vật chứng của vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 06/4/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã định giá và kết luận: Giá trị cây hoa mai vàng tại thời điểm ngày 26/3/2025 là 10.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTS, ngày 15/5/2025, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe ô tô biển số 77C-237.14, nhãn hiệu TATA, loại xe tải có mui, số loại Super, số máy 14CRAIL12JXXSC9276, số khung RRT05210TP1C01692, dung tích xi lanh 1396 cm3, năm sản xuất 2023, đã qua sử dụng, trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 26/3/2025 tại 1 V, phường E, thành phố B (nay là phường E), tỉnh Đắk Lắk; Giá trị xe ô tô biển số 77C-237.14 tại thời điểm ngày 26/3/2025 là 175.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 87/KL-HĐĐGTS, ngày 29/5/2025, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô tô biển số 47AD - 199.67, nhãn hiệu Honda, số loại JA393Wave A, màu sơn xám trắng, số máy JA70E0704515, số khung RLHJA3936RY728954, đã qua sử dụng trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 26/3/2025 tại 1 V, phường E, thành phố B (nay là phường E), tỉnh Đắk Lắk; giá trị xe mô tô biển số 47AD - 199.67 tại thời điểm ngày 26/3/2025 là 15.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 654/KL-KTHS, ngày 13/5/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đối với số khung, số máy của xe ô tô biển số 77C-237.14 trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 26/3/2025 tại địa bàn phường E, thành phố B (nay là phường E), tỉnh Đắk Lắk kết luận: Xe ô tô mang biển số 77C-237.14 có số máy 14CRAIL12JXXSC9276 không thay đổi, số khung RRT05210TP1C01692 không thay đổi.

Tại Bản kết luận giám định số 931/KL-KTHS, ngày 10/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đối với số khung, số máy của xe mô tô biển số 47AD-199.67 trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 26/3/2025 tại địa bàn phường E, thành phố B (nay là phường E), tỉnh Đắk Lắk kết luận: Xe mô tô mang biển số 47AD - 199.67 có số máy JA70E0704515 không thay đổi, số khung RLHJA3936RY728954 không thay đổi.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2025/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 01 – Đắk Lắk đã quyết định:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt Thi hành án.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Đối với xe ô tô biển số 77C-237.14, nhãn hiệu TATA, loại xe tải có mui, số loại Super, màu sơn xanh, số máy 14CRAIL12JXXSC9276, số khung RRT05210TP1C01692, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 77C-237.14, do Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu, là tài sản bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Y Hiếu Buôn K; quyết định về xử lý các vật chứng khác trong vụ án, về trách nhiệm dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/11/2025, bị cáo Nguyễn Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N4 có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo và xem xét trao trả chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 77C - 237.14 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Đăng L; nếu xác định chủ sở hữu theo giấy đăng ký lưu hành chiếc xe thì xác định là tài sản chung của bị cáo và vợ là Trần Thị N, chị tịch thu ½ giá trị chiếc xe; bà Trần Thị N cho rằng chiếc xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng nên xin nhận lại ½ giá trị chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 77C - 237.14.

Ngày 21/11/2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đăng L kháng cáo với nội dung: Chiếc xe ô tô là tài sản của ông nhờ bị cáo đứng tên và ông L giao tiền cho bị cáo mua xe, đứng tên hộ trên giấy tờ, nên đề nghị Tòa án tuyên trả lại cho ông L chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 77C - 237.14.

Trong vụ án này, đối với các đối tượng là Y Tứ N2, Y Rô Sa A1, Y Mi S, A Y Hồ Phúc Đ, A Y Hồ Phúc Đ đã tham gia thực hiện hành vi trộm cắp cây mai. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm, các đối tượng này đều dưới 16 tuổi và chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng đã xử lý hành chính đối với Y Tứ N2, Y Rô Sa A1, Y Mi S, A Yũn Hồ Phúc Đ1, A Yũn H, là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đăng L và bà Trần Thị N giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi vi phạm tội của bị cáo và khẳng định bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ và đúng người, đúng tội. Về mức hình phạt 10 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, đồng thời, bị cáo có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới là gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có 03 con dưới 15 tuổi và có cháu bị bệnh tim, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đã khởi xướng, xúi giục các đối tượng dưới 18 tuổi phạm tội để nên kháng cáo xin được hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận. Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 77C - 237.14, do bị cáo Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội và bị cáo cũng không cung cấp được tài liệu có căn cứ để chứng minh xe ô tô thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Đăng L, nên bản án sơ thẩm tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là đúng pháp luật. Do đó kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phần xử lý vật chứng là không có căn cứ chấp nhận. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo về hình phạt và sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đăng L, bà Trần Thị N, về phần xử lý vật chứng; giữ nguyên bản án sơ thẩm phần xử lý vật chứng.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước phương tiện phạm tội là xe ô tô biển số 77C - 237.14, kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 77C-237.14 do Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu.
  • - Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa, với nội dung: Đồng thuận với phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, mức hình phạt 10 tháng tù đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, bởi lẽ bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra, sau khi sự việc bị phát hiện bị cáo đã trồng lại cây mai cho bị hại và đã chăm sóc cây sống tươi tốt trở lại, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”; hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn, vợ chồng bị cáo đông con hiện nay đều dưới 15 tuổi và có cháu bị bệnh tim bẩm sinh phải điều trị thường xuyên, bị cáo là lao động chính của gia đình, là tình tiết giảm nhẹ theo theo điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị hại đã nhiều lần có đơn bãi nại đề nghị giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và hiện nay hoàn cảnh gia đình quá khó khăn và Hội Phụ nữ phường E, tỉnh Đắk Lắk đã có Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình bị cáo cũng như việc bị cáo chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật tại nơi cư trú. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, chăm lo cho gia đình và các con của bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Đối với phần xử lý vật chứng, thì bản án sơ thẩm tuyên tịch thu sung công quỹ là không phù hợp, vì gia đình bị cáo quá khó khăn nên em trai của bị cáo là anh Nguyễn Đăng L đã bỏ tiền mua và nhờ bị cáo đứng tên do bị cáo có bằng lái xe, nhằm thuận tiện trong việc điều khiển, sử dụng làm phương tiện mưu sinh, nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại chiếc xe cho anh Nguyễn Đăng L.

Bị cáo đồng ý với ý kiến bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để chăm sóc gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đăng L và bà Trần Thị N đề nghị tuyên trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 77C - 237.14 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Đăng L.

Qua tranh luận, đối đáp, đại diện Viện Kiểm sát, Luật sư bào chữa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 22/3/2022, Nguyễn Văn T đã khởi xướng và thỏa thuận với Y Tứ N2 việc Y T3 đi trộm cắp cây mai của ông Trương Tuấn N1 tại địa chỉ số A đường V, phường E, tỉnh Đắk Lắk và bị cáo sẽ mua lại, thì Y T3 đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 50 phút, ngày 25/3/2025, các đối tượng Y Tứ N2, Y Rô Sa A1, Y Mi S, Ayùn Hồ Phúc Đ, đã cùng nhau đi đến nhà ông Trương Tuấn N1 và nhổ trộm là 01 cây mai vàng, qua định giá có trị là 10.000.000 đồng. Sau khi trộm cắp được cây mai, các đối tượng đã bán cho Nguyễn Văn T theo thỏa thuận trước đó, sau đó sự việc bị phát hiện xử lý. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp lý và đảm bảo đúng người, đúng tội.

[2] Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, xét thấy: Về mức hình phạt 10 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là thoả đáng và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản có giá trị không lớn, bị cáo đã giao nộp tài sản chiếm đoạt để trả cho bị hại, đồng thời bị cáo đã có trách nhiệm chăm sóc, hồi phục cây mai sống lại, được bị hại xác nhận và đã có đơn bãi nại cho bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm và tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm các tài liệu thể hiện bị cáo có 03 người con, hiện nay các con bị cáo đều dưới 15 tuổi và gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, vợ và các con của bị cáo đang có bệnh, trong đó có 01 con (cháu Nguyễn Ngọc N5) đang bị bệnh tim, cần phải điều trị thường xuyên. Ngoài ra, Hội Liên hiệp Phụ nữ phường E, tỉnh Đắk Lắk đã có Văn bản đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo (Công văn số 01/CV-BTV ngày 21/01/2026), xác nhận về hoàn cảnh gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn và xác nhận bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo thật sự khó khăn, con còn nhỏ và bị bệnh, cần được chăm sóc và điều trị thường xuyên. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo tự cải tạo tại chỗ, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình là phù hợp, như vậy cũng đảm bảo được việc cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo về biện pháp chấp hành hình phạt, là phù hợp.

[3] Đối với kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đăng L và bà Trần Thị N, về phần xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 77C - 237.14, nhãn hiệu TATA, xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Đăng L, bà Trần Thị N cho rằng chiếc xe ô tô này ông L đưa tiền nhờ bị cáo T mua và nhờ đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe, nên xe thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Đăng L. Tuy nhiên, bị cáo và ông L, bà N không cung cấp được chứng cứ cứ căn cứ pháp lý để chứng minh việc bị cáo đứng tên hộ ông L, cũng như chứng cứ xác định chiếc xe là tài sản của ông L; việc bị cáo cung cấp sao kê thông tin chuyển khoản về nội dung ông L có chuyển tiền cho bị cáo T, nhưng nội dung chuyển khoản không thể hiện mục đích việc chuyển tiền; đối với “Giấy nhận tiền mua bán xe” ngày 17/02/2024, giữa ông L và bị cáo T do hai bên tự lập với nhau nên không đủ căn cứ pháp lý để xác định là bị cáo đứng tên hộ ông L và không đủ căn cứ để xác định chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-237.14 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Đăng L. Căn cứ vào Giấy đăng ký xe ô tô và quá trình sử dụng thì đủ cơ sở xác định chiếc xe ô tô biển kiểm soát 77C - 237.14 là tài sản của bị cáo và bị cáo đã sử dụng chiếc xe ô tô này làm phương tiện phạm tội, vì vậy bản án sơ thẩm tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc xe ô tô là đúng pháp luật. Do đó, kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đăng L, bà Trần Thị N, về phần xử lý vật chứng là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Về án phí: Do được chấp nhận một phần kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm a, điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2025/HS-ST ngày 06/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đăng L và bà Trần Thị N về phần vật chứng; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2025/HS-ST ngày 06/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk về phần xử lý vật chứng

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường E, tỉnh Đắk Lắk để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 và khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước phương tiện dùng vào việc phạm tội là: 01 xe ô tô biển kiểm soát 77C - 237.14, nhãn hiệu Ta Ta, loại xe tải có mui, số loại Super, màu sơn xanh, số máy 14CRAIL12JXXSC9276, số khung RRT05210TP1C01692, đã qua sử dụng, kèm 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 77C - 237.14, do Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu.

(Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/10/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đắk Lắk).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
  • - Toà PT-TANDTC tại ĐN (1);
  • - VKSNDTC tại ĐN (1);
  • - TAND khu vực 1 (2);
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk (2);
  • - VKSND khu vực 1 (1);
  • - THADS khu vực 1;
  • - Người tham gia tố tụng (1);
  • - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trương Công Bình
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2026/HS-PT ngày 05/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 46/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 25/3/2025, bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi trộm cắp tài sản của ông Trương Tuấn N là 01 cây mai vàng, giá trị là 10.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger