TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2026/DS-PT Ngày: 20/01/2026 Về việc tranh chấp vay tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều
Các Thẩm phán: Ông Bùi Anh Tuấn
Bà Châu Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 382/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 609/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Kim M, sinh ngày 27/12/1958 (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Lữ Thị Kim Q, sinh năm 1994 (vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Dương Long H, sinh ngày 13/11/1961; Địa chỉ: Số G, đường Đ, Khóm A, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số G, đường Đ, Khóm A, phường V, tỉnh Cà Mau) (xin vắng mặt)
- + Bà Từ Thị L, sinh năm 1963; (không triệu tập)
Địa chỉ: Số G, đường Đ, Khóm A, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số G, đường Đ, Khóm A, phường V, tỉnh Cà Mau)
Địa chỉ: Số F, Khóm E, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số F, Khóm A, phường B, tỉnh Cà Mau)
Địa chỉ: Số F, Khóm E, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số F, Khóm A, phường B, tỉnh Cà Mau)
Do có kháng cáo của: Bà Huỳnh Kim M là nguyên đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Huỳnh Kim M trình bày:
Ông Dương Long H cho chị Lữ Thị Kim Q mượn tiền nhiều lần, có khi ông H chuyển khoản, có khi chị Q nhận tiền trực tiếp, tổng cộng là 120.000.000 đồng. Khi cho mượn không làm biên nhận, chị Q có chốt số tiền nợ qua Zalo của ông H và đồng thời trong giấy nộp tiền ghi ngày 21/11/2023 có ghi tổng số tiền chị Q mượn là 88.000.000 đồng. Ông H và bà M là vợ chồng, tiền ông H cho chị Q mượn là tiền chung của vợ chồng.
Do đó, bà M yêu cầu chị Q trả lại cho bà M số tiền ông H đã cho chị Q mượn là 120.000.000 đồng. Yêu cầu tính lãi suất là 10%/năm, chị Q phải trả số tiền lãi tính từ ngày 21/11/2023 đến ngày 21/12/2024 đối với số tiền gốc đã mượn là 120.000.000 đồng, tiền lãi là 13.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền chị Q phải trả cho cho bà M là 133.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bà M rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 32.000.000 đồng. Bà M yêu chị Q trả lại cho bà M, ông H số tiền ông H đã cho chị Q mượn là 88.000.000 đồng và tính lãi suất là 10%/năm, tính từ ngày 21/11/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Bị đơn chị Lữ Thị Kim Q trình bày:
Chị Q không đồng ý theo yêu cầu của bà M, vì chị Q không có vay tiền gì của bà M và ông H. Đúng là ông H có nộp tiền cho chị Q do hoàn cảnh chị Q có khó khăn, ông H giúp đỡ, đây là số tiền ông H cho chị Q, không phải chị Q mượn của ông H. Ông H chỉ chuyển tiền cho chị Q một lần duy nhất là 25.000.000 đồng, ngoài ra không có chuyển tiền lần nào khác. Khi nhận thông tin chuyển tiền chị Q hoàn toàn không thấy có nội dung “TRC DAY AHUONG DA CHO QUY MUON 25TR VA DUA MA QUY 30TR NAY QUY MUON TIEP 25TR VA DA NHAN 8TR-TC EM VÂM DA NAN LUON LAN NAY ANH LA 88TR MUON ANH-NAY EM NHAN 25TR AHUONG CHUYEN".
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Từ Thị L trình bày:
Bà L không đồng ý theo yêu cầu của bà M, vì bà L và Q không có vay, mượn tiền gì của bà M và ông H. Bà L không có nhận tiền của ông H, trong giấy nộp tiền ông H viết là không đúng sự thật. Đề nghị xem xét giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Long H trình bày theo bản tự khai ngày 29/6/2025:
Ông H cho chị Q mượn tiền nhiều lần, có khi ông H chuyển khoản, có khi chị Q nhận tiền trực tiếp, tổng cộng là 120.000.000 đồng. Khi cho mượn không làm biên nhận, chị Q có chốt số tiền nợ qua Zalo của ông H và đồng thời trong giấy nộp tiền ghi ngày 21/11/2023 có ghi tổng số tiền chị Q mượn là 88.000.000 đồng. Ông H thống nhất với yêu cầu của bà M.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau quyết định:
- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 1 Điều 228; điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
2
- Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
- Điều 463, 465, khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 và Điều 15; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Kim M đối với chị Lữ Thị Kim Q.
- Buộc chị Lữ Thị Kim Q có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Kim M và ông Dương Long H số tiền vay còn nợ là 25.000.000 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Kim M đối với chị Lữ Thị Kim Q về việc đòi chị Lữ Thị Kim Q trả số tiền 63.000.000 đồng và tiền lãi.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Kim M đối với chị Lữ Thị Kim Q về yêu cầu trả số tiền vay là 32.000.000 đồng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn bà Huỳnh Kim M kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Nguyên đơn bà Huỳnh Kim M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
* Phần tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Kim M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của bà Huỳnh Kim M được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Bà Huỳnh Kim M và ông Dương Long H có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
[2] Về nội dung kháng cáo: Bà M kháng cáo với quyết định của cấp sơ thẩm tuyên xử yêu cầu chấp nhận khởi kiện của bà cụ thể là yêu cầu bà Lữ Thị Kim Q trả lại cho bà và ông H số tiền là 88.000.000 đồng và tính lãi suất 10% /năm, tính từ ngày 21/11/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm.
[3] Về nội dung vụ án: Bà M và ông H xác định có cho chị Q vay tiền nhiều lần với tổng số tiền là 120.000.000 đồng, nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Q trả số tiền trên. Tuy nhiên, bà M đã rút một phần yêu cầu với số tiền 32.000.000 đồng; chỉ yêu cầu số tiền 88.000.000 đồng. Bị đơn chị Q xác định bà hoàn toàn không có vay tiền của bà M, ông H, mà trước đây do gia đình bà khó khăn ông H có chuyển cho bà số tiền 25.000.000 đồng. Do đó, bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Xét kháng cáo của bà M, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi rút một phần khởi kiện, bà M yêu cầu bà Q trả 88.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình bà M cung cấp giấy chuyển tiền ngày 21/11/2023 do ông H chuyển cho bà Q số tiền 25.000.000 đồng, bà Q cũng thừa nhận. Tuy nhiên bà Q xác định do ông H cho, nhưng bà không chứng minh được việc ông H cho, nên buộc bà Q phải trả là có căn cứ. Số tiền còn lại 63.000.000 đồng, bà M yêu cầu bà Q trả, nhưng không có tài liệu chứng cứ, chứng minh. Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà M là phù hợp. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà M.
[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Kim M được miễn nộp án phí.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Kim M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 227; Điều 228; điểm c khoản 1, Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Điều 463, 465, khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự;
Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 và Điều 15; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
4
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Kim M đối với chị Lữ Thị Kim Q.
- Buộc chị Lữ Thị Kim Q có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Kim M và ông Dương Long H số tiền vay còn nợ là 25.000.000 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Kim M đối với chị Lữ Thị Kim Q về việc đòi chị Lữ Thị Kim Q trả số tiền 63.000.000 đồng và tiền lãi.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Kim M đối với chị Lữ Thị Kim Q về yêu cầu trả số tiền vay là 32.000.000 đồng.
- Về án phí:
- 5.1 Án phí dân sự sơ thẩm:
- 5.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Kim M được miễn nộp án phí.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Chị Lữ Thị Kim Q phải chịu 1.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Bà Huỳnh Kim M được miễn nộp án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lệ Kiều |
5
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Giang Thị Cẩm Thúy | Lê Phan Công Trí | Nguyễn Lệ Kiều |
6
Bản án số 46/2026/DS-PT ngày 20/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 46/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tài sản
