Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP

Bản án số: 46/2025/DS-ST

Ngày: 23/12/2025.

“V/v Tranh chấp xin ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Cát Chiêu Hằng

2. Ông Lê Nguyễn Minh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Diệp - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 191/2025/TLST-DS ngày 17/11/2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-DS ngày 08/12/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Phan Thị Thúy A, sinh năm 11/10/1995. Căn cước công dân số 091195008249; Địa chỉ: Khu phố X, xã K, tỉnh An Giang; (Địa chỉ củ: Khu phố X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang); Điện thoại: 0858.733.332 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn : Nguyễn Công T, sinh năm 10/01/1993; Căn cước công dân: 087093011365; Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ củ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp); Điện thoại: 0789.211.451 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Thị Thúy A trình bày:

Chị A và anh T quen biết từ năm 2013, có tìm hiểu nhau được khoảng 05 tháng thì tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 289/2013 ngày 26/11/2013. Sau khi kết hôn thì anh T và chị A về sống nhờ nhà cha mẹ ruột của chị A tại: Địa chỉ: Khu phố X, xã K, tỉnh An Giang; (Địa chỉ củ: Khu phố X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang)

Thời gian đầu thì chị A và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh T sử dụng ma túy, không đi làm nên vợ chồng cự cải với nhau, bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung. Anh T bỏ về quê anh T sống và không còn liên lạc với nhau cho đến nay, chị A nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị A yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 17/5/2014 và Nguyễn Thị Như T1, sinh năm 16/5/2016 (hiện nay con đang sống với chị A). Chị A yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn, chị A không yêu cầu anh Trung cấp D nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Phan Thị Thúy A tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Phan Thị Thúy A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản ghi lời khai ngày 05/12/2025 bị đơn anh Nguyễn Công T trình bày:

Anh T và chị A quen biết từ năm 2013 có tìm hiểu nhau được khoảng 05 tháng thì tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới năm 2013, có đăng ký kết hôn và được UBND thị T, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 289/2013 ngày 26/11/2013. Sau khi kết hôn thì anh T và chị A về sống nhờ nhà cha mẹ ruột của chị A tại: Địa chỉ: Khu phố X, xã K, tỉnh An Giang; (Địa chỉ củ: Khu phố X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang)

Thời gian đầu thì Anh T và chị A chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc, thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm sống. Đến khoảng tháng 05/2016 thì anh T đi biển xong về, năm 2017 thì anh T đi thành phố Hồ Chí Minh làm và về nhà cha, mẹ anh T sống và ly thân với chị A từ năm 2017 cho đến nay. Anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn.

Anh Nguyễn Công T cảm thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm không còn, tính tình không phù hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị A yêu cầu ly hôn anh T đồng ý.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 17/05/2014 và Nguyễn Thị Như T1, sinh năm 16/05/2016 (hiện nay con đang sống với chị A). Anh T đồng ý giao 02 con cho chị A nuôi sau khi ly hôn, việc cấp dưỡng nuôi con anh T và chị A tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh T và chị A tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh Nguyễn Công T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo hướng:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Thúy A và anh Nguyễn Công T. Chị Phan Thị Thúy A được ly hôn với anh Nguyễn Công T.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 17/5/2014 và Nguyễn Thị Như T1, sinh năm 16/5/2016 (hiện nay con đang sống với chị A) cho chị Phan Thị Thúy A nuôi sau khi chị A và anh T ly hôn. Việc cấp dưỡng nuôi con chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  3. Về tài sản chung: Chị Phan Thị Thúy A và anh Nguyễn Công T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về nợ chung: Chị Phan Thị Thúy A và anh Nguyễn Công T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị A yêu cầu ly hôn với anh T. Anh T có nơi cư trú tại: xã T, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đìnhHội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp xin ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.

[2] Về việc vắng mặt đương sự: Chị A vắng mặt có có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 18/11/2025, anh T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05/12/2025. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị A và anh T là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về hôn nhân: Chị A và anh T quen biết từ năm 2013 có tìm hiểu nhau được khoảng 05 tháng thì tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND thị T, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh Kiên Giang) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 289/2013 ngày 26/11/2013. Sau khi kết hôn thì anh T và chị A về sống nhờ nhà cha mẹ ruột của chị A tại: Địa chỉ: Khu phố X, xã K, tỉnh An Giang; (Địa chỉ củ: Khu phố X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang)

Thời gian đầu thì Anh T và chị A chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc, thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2017 thì anh T sống và ly thân với chị A từ năm 2017 cho đến nay.

Chị A và anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn, vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị A yêu cầu ly hôn và anh T đồng ý ly hôn. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình hôn nhân của chị A và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chị A yêu cầu xin ly hôn là có cơ sở, nên chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị A và anh T trình bày có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 17/5/2014 và Nguyễn Thị Như T1, sinh năm 16/5/2016 (hiện nay con đang sống với chị A), chị A và anh T thống nhất giao 02 con chung cho chị A nuôi sau khi chị A và anh T ly hôn, việc cấp dưỡng nuôi con chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết

Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Ý và cháu T1 là con chung của chị A và anh T, chị A đang nuôi hai con ổn định, anh T đồng ý giao hai con chung cho chị A nuôi sau khi ly hôn, hai cháu Ý và T1 hiện đang sống với chị A. Hai cháu Ý và cháu T1 có văn bản trình bày nguyện vọng sống với chị A sau khi chị A và anh T ly hôn. Căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chị A yêu cầu được nuôi 02 con sau khi ly hôn là có cơ sở để chấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con chị A không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị A và anh T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị A và anh T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do chị A là người khuyết tật và có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí và án phí ngày 17/11/2025 nên miễn tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho chị A.

[8] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Thúy A.

    Chị Phan Thị Thúy A được ly hôn với anh Nguyễn Công T.

  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 17/5/2014 và Nguyễn Thị Như T1, sinh năm 16/5/2016 (hiện nay con đang sống với chị A) cho chị Phan Thị Thúy A nuôi sau khi chị Phan Thị Thúy A và anh Nguyễn Công T ly hôn. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị Phan Thị Thúy A không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

    Anh Nguyễn Công T có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai cản trở.

  3. Về tài sản chung: Chị Phan Thị Thúy A và anh Nguyễn Công T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về nợ chung: Chị Phan Thị Thúy A và anh Nguyễn Công T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Miễn tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm cho chị Phan Thị Thúy A.
  6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp;
  • - UBND xã Kiên Lương, tỉnh An Giang (số 289/2013 ngày 26/11/2013);
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/DS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 46/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger