Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-ST

Ngày: 24/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Toànbà Ly Ánh Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Nam Hải - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Chí Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Hoài T (Tên gọi khác: Cu E), sinh ngày 27 tháng 12 năm 1989 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: K, thị trấn K, tỉnh Quảng Trị (Nay là thôn D, xã K, tỉnh Quảng Trị); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê G (Đã chết) và bà Hồ Thị H, sinh năm 1962; vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1993; có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21/01/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa (cũ) xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 02/2015/HS-ST. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Ngày 21/4/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị tuyên y án sơ thẩm theo bản án số: 08/HS-PT (Chấp hành xong hình phạt ngày 27/01/2022).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2025, tạm giam từ ngày 07/4/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Q, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn D, xã K, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Ông Lê Mạnh T1, sinh năm 1995; nơi cư trú: Khóm B, xã H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
  • + Bà Trần Thị Ngọc Á, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố A, phường Q; chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã K, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 04 giờ ngày 29/3/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Hoài T sử dụng điện thoại di động của mình truy cập vào tài khoản Facebook tên “Tuấn LH” gọi qua ứng dụng M cho người thanh niên tên T2 có tài khoản Facebook tên “Trung Pham” để hỏi mua 500.000 đồng ma túy. Sau khi gọi xong T xóa lịch sử cuộc gọi trong máy điện thoại của mình (Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của T2). Khoảng 15 phút sau, T2 điều khiển xe mô tô đến giao ma túy cho T tại nhà bà Hồ Thị H (T ở cùng nhà với mẹ mình là bà H) ở số B L, khối D, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị (Nay là thôn D xã K, tỉnh Quảng Trịuấn đưa cho T2 500.000 đồng và nhận từ T2 một túi nilông màu đen bên trong có chứa các viên ma túy tổng hợp loại hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, T không mở ra kiểm đếm mà đưa vào phòng ngủ của mình để cất giấu.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Lê Mạnh T1 điều khiển xe mô tô đến nhà T chơi, khi vào trong phòng ngủ T rủ T1 sử dụng ma túy thì T1 đồng ý. T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy do T làm từ trước và dùng dụng cụ này để sử dụng ma túy; T1 tự làm dụng cụ để sử dụng riêng cho mình. T lấy gói nilông màu đen chứa ma túy vừa mua được ra để trên bàn gỗ ở giữa giường và lấy ra 02 viên rồi một mình sử dụng hết; T1 cũng lấy 02 viên từ gói ma túy của T rồi một mình T1 sử dụng hết. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Trần Thị Ngọc Á điều khiển xe mô tô đến nhà T chơi, khi vào trong phòng ngủ T rủ Á sử dụng ma túy thì Á đồng ý. T lấy giấy kẽm làm máng, 02 viên ma túy và đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình cho Á sử dụng.

Vào lúc 10 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an thị trấn K phối hợp với lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra hành chính nhà bà Hồ Thị H phát hiện trong phòng ngủ phía bên phải (hướng từ cổng nhà đi vào) gồm Tuấn, T1, Á đang ngồi trên giường có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Khi thấy lực lượng chức năng, T3 gói ni lông màu đen chứa các viên ma túy chưa sử dụng hết ném xuống nền nhà phía trước cửa phòng ngủ.

Qua kiểm tra, phát hiện cụ thể như sau: Trên giường gỗ trong phòng ngủ của T ở giữa vị trí mà T1, T, Á ngồi có một bàn gỗ, trên bàn để 03 mãnh giấy kẽm cháy xém; 01 chai nhựa cao 21 cm, đường kính đáy 05cm, cách đáy 06cm trên thân chai đục 01 lỗ tròn được gắn một ống bằng tre dài 16cm, miệng chai gắn một ống nhựa dài 7,5cm, đường kính ống 02cm; 01 bật lửa gas màu đỏ ghi dòng chữ “VIVA” và 01 bật lửa gas màu xanh ghi dòng chữ “VIVA”. Trên giường có một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON; tại vị trí ngồi của T1 có một chai nhựa trong suốt, cao 18,5cm, đường kính đáy 06cm, cách đáy 04cm trên thân chai đục 01 lỗ tròn và gắn 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng được quấn thành hình trụ tròn; trong túi quần phía trước bên phải của T1 có 01 bật lửa gas trong suốt. Tiến hành kiểm tra, thu giữ các viên nén T vứt ra dưới nền nhà phía trước phòng ngủ của T tổng cộng 08 viên nén màu hồng, hình trụ tròn.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 29/3/2025 đối với Lê Hoài T, Lê Mạnh T1, Trần Thị Ngọc Á: Cả 03 đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Kết luận giám định số: 420/KL-KTHS ngày 04/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 08 viên nén màu hồng, hình trụ tròn được niêm phong trong phong bì ký hiệu MTQT là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,70g.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Kết luận giám định số: 444/KL-KTHS ngày 11/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Dấu vết đường vân (ký hiệu A) phát hiện trên bề mặt chai nhựa trong suốt kích thước (21x5)cm, được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu DCSD gửi đến giám định với đường vân in ở ô giữa phải trên chỉ bản mẫu so sánh ghi tên Lê Mạnh T1 (sinh ngày 12/12/1995, nơi ở hiện nay: khóm B, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị) (ký hiệu M2) là đường vân của cùng một người in ra.

Kết luận giám định số: 431/KL-KTHS ngày 08/4/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q kết luận: 01 tờ tiền in mệnh giá 2.000 đồng, số seri “Y12212983” được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TIỀN” gửi đến giám định là tiền thật.

Cáo trạng số: 18/CT-VKS-KV7 ngày 04/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Lê Hoài Tuấn về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị có yêu cầu thay đổi, bổ sung cáo trạng truy tố bị cáo từ điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự thành điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hoài T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hoài T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 08 viên nén màu hồng, hình trụ tròn; sau giám định hoàn lại trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số MT420/PC04, có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh Q.
  • - Tịch thu tiêu hủy 03 mảnh giấy kẽm không rõ hình dạng kích thước, trên bề mặt mỗi mảnh giấy cháy xém; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON, kích thước (9x2x2)cm; 01 chai nhựa trong suốt, cao 21cm, đường kính đáy 05cm, miệng chai gắn 01 ống nhựa dài 7,5cm, đường kính 02 cm, cách đáy 06cm trên thân chai đục 01 lỗ tròn gắn một đoạn ống tre dài 16cm; 01 bật lửa gas màu xanh trên thân ghi chữ “VIVA”; 01 bật lửa gas màu đỏ trên thân ghi chữ “VIVA”; 01

bật lửa gas trong suốt; 01 chai nhựa trong suốt, cao 18,5cm, đường kính đáy 06cm, cách đáy 04cm trên thân chai đục 01 lỗ tròn; sau giám định hoàn lại trong 01 hộp giấy có ký hiệu BG, có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 2.000 đồng được quấn thành hình trụ tròn, có số seri “Y12212983"; sau giám định hoàn lại trong 01 phong bì giấy ký hiệu TIỀNKL-43125, có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng nhạt, mặt sau có dòng chữ Iphone đã qua sử dụng, số IMEI: 356563085350541 của bị cáo Lê Hoài T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa tòa bị cáo Lê Hoài T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ, không tham gia tranh luận gì đối với luận tội của Viện kiểm sát và bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên và Kiểm sát viên khu vực 7, tỉnh Quảng Trị: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Ngày 29/3/2025, tại nhà bà Hồ Thị H ở số B L, khóm D, xã K, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn D xã K, tỉnh Quảng Trị); bị cáo Lê Hoài T đã rủ rê, chuẩn bị dụng cụ, địa điểm, cung cấp ma túy cho Lê Mạnh T1 sử dụng; khoảng một giờ đồng hồ sau lại cung cấp ma túy và dụng cụ cho Trần Thị Ngọc Á sử dụng, khi Á đang sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 08 viên nén màu hồng, hình trụ tròn còn lại chưa sử dụng hết của Lê Hoài T. Kết luận giám định số: 420/KL-KTHS ngày 04/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 08 viên nén màu hồng, hình trụ tròn được niêm phong trong phong bì ký hiệu MTQT là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,70g.Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Vì vậy, hành vi trên của bị cáo Lê Hoài T đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn tổ chức, cung cấp ma túy, chuẩn bị địa điểm với động cơ, mục đích để thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho cá nhân; Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng vẫn không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Số ma tuý hoàn lại sau giám định trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số MT420/PC04, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh Q là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu huỷ.
  • - Các công cụ sử dụng ma tuý sau giám định hoàn lại trong 01 hộp giấy niêm phong, có ký hiệu BG, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 tờ tiền Việt Nam có mạnh giá 2.000 đồng sau giám định hoàn lại trong 01 phong bì giấy ký hiệu TIỀNKL431-25, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q của Lê Hoài T là công cụ bị cáo quấn tròn để dùng vào việc sử dụng ma tuý nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng nhạt, mặt sau có dòng chữ Iphone đã qua sử dụng, số IMEI: 356563085350541, không có thẻ sim, không kiểm tra chất lượng máy của bị cáo Lê Hoài T. Bị cáo dùng điện thoại để liên lạc mua ma tuý nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Hồ Thị H 01 cái bàn gỗ dài 45 cm, rộng 27 cm, cao 08 cm, màu nâu, chị Trần Thị Ngọc Á 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu hồng, mặt sau có dòng chữ VIVO và trả lại cho Lê Mạnh T1 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vấn đề khác: Đối với người thanh niên tên T2 đã bán ma túy cho bị cáo Lê Hoài T, cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng không xác định được lai lịch nên không có đủ căn cứ để xử lý.

Đối với Lê Mạnh T1 và Trần Thị Ngọc Á, kết quả điều tra xác định T1 và Á là người thụ hưởng, không thực hiện một trong các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã có các Công văn số: 274, 275/TB-PC04 ngày 31/3/2025 yêu cầu Ủy ban nhân dân thị trấn K (Nay là xã K) và Ủy ban nhân dân thị trấn K (Nay là xã H) xử lý hành chính theo quy định.

Đối với bà Hồ Thị H, việc bị cáo T cùng T1, Á sử dụng ma túy trong nhà bà H không biết nên không phải chịu trách nhiệm pháp lý.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Hoài T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoài T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hoài T 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/3/2025.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số MT420/PC04 và các công cụ sử dụng ma tuý sau giám định hoàn lại trong 01 hộp giấy niêm phong, có ký hiệu BG; bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh Q;
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam có mạnh giá 2.000 đồng sau giám định hoàn lại trong 01 phong bì giấy ký hiệu TIỀNKL431-25, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng nhạt, mặt sau có dòng chữ Iphone đã qua sử dụng, số IMEI: 356563085350541 của bị cáo Lê Hoài T.
  4. Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Hoài T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/12/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND khu vực 7;
  • - Phòng THADS khu vực 7;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 45/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoai T "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger