|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày: 23/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Ông Lê Văn Lượng
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 đối với:
Bị cáo Trần Quốc K (Tên gọi khác: B), giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/9/1997, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKHKTT: Khu phố D, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; Nơi ở hiện nay: Khu phố A, phường N, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Đức S (đã chết); con bà Lê Thị Thu H; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Nguyễn Lê Bảo H1; Con: Trần Ngọc Hà N, sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân:
- + Ngày 21/01/2013, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ về hành vi trực tiếp xâm hại đến sức khỏe tính mạng của người khác bằng hình thức phạt tiền.
- + Ngày 29/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (cũ), nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Quảng Trị xử phạt 10 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi Cố ý gây thương tích theo bản án số 100/2014/HSST ngày 29/9/2014. Trần Quốc K đã chấp hành xong.
- + Ngày 22/5/2014, bị Công an phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (cũ) nay là Công an phường N, tỉnh Quảng Trị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ-XPHC về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- + Ngày 06/9/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (cũ), nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Quảng Trị xử phạt 05 năm tù giam về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 52/2018/HS-ST ngày 06/9/2018. Trần Quốc K đã chấp hành xong.
- + Ngày 20/12/2022, bị Công an P, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (cũ) nay là Công an phường Đ, tỉnh Quảng Trị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50/QĐ-VPHC về hành vi gây rối trật tự công cộng.
- + Ngày 17/10/2025, bị Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 22/7/2025, đến ngày 31/7/2025, thì chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên ngày 20/7/2025, Trần Quốc K đã đi đến khu vực nghĩa địa Đ thuộc Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là Khu phố A, phường N, tỉnh Quảng Trị) mua của một người thanh niên không rõ lai lịch địa chỉ mua được ma túy loại Methamphetamine và Ketamine với số tiền 1.500.000 đồng. Lấy được ma tuý, K mang về nhà và sử dụng hết số ma túy Ketamine và một ít ma túy Methamphetamine, số ma túy Methamphetamine còn lại K cất giấu tại túi xách có dây đeo của mình.
Vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 22/7/2025, K đến nhậu tại quán M số G Đ, phường N, tại đây giữa K và bạn là anh Lê Vũ T, sinh năm 1996, trú tại xã C, tỉnh Quảng Trị có xảy ra xích mích, lời qua tiếng lại với nhau, lúc này nhân viên trong quán là Trần Tuấn A, sinh năm 1996, trú tại xã C, tỉnh Quảng Trị đến nhắc nhở và yêu cầu K cùng bạn ra khỏi quán để giải quyết mâu thuẫn nên giữa K và anh Trần Tuấn A có lời qua tiếng lại với nhau. Bức xúc với thái độ của anh Trần Tuấn A nên K đi về nhà của mình để lấy cây kiếm có ốp bằng gỗ màu nâu đỏ đi đến quán M để giải quyết mâu thuẩn với anh Trần Tuấn A, khi đi K mang một túi xách bằng da màu đen có dây đeo, bên trong có một khẩu súng màu đen có một viên đạn sẵn nạp sẵn và có 06 viên đạn khác được để trong túi nilong; túi nilong đựng số ma túy Methamphetamine. Khi K đến quán
M, nhân viên trong quán thấy vậy nên đã can ngăn cản và mời K ra khỏi quán và điện thoại báo lực lượng Công an đến làm việc. Khi lực lượng Công an đến làm việc đồng thời kiểm tra đối với K thì phát hiện trong túi xách bằng da màu đen có dây đeo mà K đang đeo trên người có chứa những đồ vật tài sản nói trên nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.
Vật chứng, tài sản, đồ vật, tài liệu tạm giữ:
- - 01 (một) túi xách màu đen bằng da có dây đeo có kích thước (44x20)cm.
- - 01 túi nilong trong suốt có kích thước (20x12)cm, bên trong có 01 túi nilong trong suốt có kích thước (11,5x6,5)cm, bên trong túi nilong này đựng các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy).
- - 01 (một) khẩu súng có chiều dài 18cm, chiều dài báng súng 13cm, đường kính nòng súng (4,5x3,5)cm, có ký hiệu: SIGSAUER P320, bên trong súng có 01 viên đạn hình trụ tròn có kích thước (2,5x1)cm, súng không có băng tiếp đạn.
- - 01 túi nilong trong suốt có kích thước (8,5 x 5,5)cm bên trong đựng 06 viên đạn kích thước mỗi viên (2,5x1)cm.
- - 01 (một) cây kiếm dài 72cm, cán hình trụ tròn có quấn dây màu đen kích thước (23x3)cm, lưỡi kiếm dài 49 cm.
- - 01 (một) ốp vỏ dao chất liệu gỗ, màu nâu kích thước (45,5 x 3,5)cm.
Tại Bản kết luận giám định số: 856/KL-KTHS ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:
Chất rắn màu trắng dạng tinh thể được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu MT gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu là 1,78g (một phẩy bảy tám gam).
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Số vật chứng còn lại gồm:
- - 01 (một) khẩu súng có chiều dài 18cm, chiều dài báng súng 13cm, đường kính nòng súng (4,5x3,5)cm, có ký hiệu: SIGSAUER P320, súng không có băng tiếp đạn.
- - 04 viên đạn hình trụ tròn kích thước mỗi viên (2,5x1)cm (được hoàn trả sau giám định, đã thực nghiệm 03 viên).
- - 01 (một) cây kiếm dài 72cm, cán hình trụ tròn có quấn dây màu đen kích thước (23x3)cm, lưỡi kiếm dài 49 cm.
- - 01 (một) ốp vỏ kiếm chất liệu gỗ, màu nâu kích thước (45,5 x 3,5)cm.
Tại Bản kết luận giám định số 860/KL-KTHS, ngày 30/7/2025, của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:
- - Khẩu súng trong hộp niêm phong ký hiệu SĐ gửi giám định là súng có tính năng, tác dụng tương tự như súng quân dụng, bắn đạn cỡ 9x17mm, thuộc vũ khí quân dụng. Súng hiện còn hoạt động bình thường, sử dụng bắn gây sát thương cho người và động vật khi trở thành mục tiêu.
- - 07 (bảy) viên đạn niêm phong ký hiệu SĐ gửi giám định là đạn cỡ 9x17mm, sử dụng cho súng quân dụng có cỡ nòng 9mm, thuộc vũ khí quân dụng. Đạn hiện còn hoạt động bình thường, sử dụng bắn gây sát thương cho người và động vật khi trở thành mục tiêu.
- - Mẫu vật trong hộp niêm phong ký hiệu K gửi giám định là kiếm thuộc phụ lục 3 “Danh mục Vũ khí thô sơ”, ban hành kèm theo Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ C.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã bàn giao cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q để điều tra, xử lý theo theo thẩm quyền.
Cáo trạng số 03/CT-VKSĐH ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Quốc K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc K từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- + Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT856, được dán kín, bên ngoài có chữ ký của người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh Q. (Kèm theo kết luận giám định số: 856/KL-KTHS ngày 29/7/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh Q và biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giam định ngày 31/7/2025).
- + 01 túi niong trong suốt có kích thước (11,5x6,5) cm;
- + 01 túi nilong trong suốt có kích thước (20x12)cm;
- +01 (một) túi xách da màu đen, có dây chéo, kích thước (44 x20) cm;
- + 01 túi nilong trong suốt có kích thước (8,5x5,5)cm.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 20/7/2025, Trần Quốc K mua ma túy loại Methamphetamine và Ketamine của người không rõ lai lịch tại khu vực nghĩa địa Đ, thành phố Đ (Nay là Khu phố A, phường N, tỉnh Quảng Trị) với giá 1.500.000 đồng. K đã sử dụng hết Ketamine và một phần Methamphetamine, số còn lại cất giấu trong túi xách để sử dụng. Khoảng 22 giờ ngày 22/7/2025, khi đến quán M tại phường N, K xảy ra mâu thuẫn với một số người trong quán. Sau đó K mang theo túi xách bên trong có ma túy Methamphetamine, một khẩu súng đã nạp đạn, 06 viên đạn và một cây kiếm quay lại quán thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ tang vật. Theo kết luận giám định, tang vật ma túy bị thu giữ là Methamphetamine, khối lượng 1,78 gam (Một phẩy bảy tám gam).
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Quốc K đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung "...Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025 như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.
[3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy. Cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân không tốt, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và từng bị kết án về các tội xâm phạm sức khỏe người khác và tội về ma túy.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, bố của bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen của Công an tỉnh Q, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ cùng với nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu MT856, bên ngoài có hình dấu Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của những người tham gia niêm phong. Ma túy là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- - 01 túi nilong trong suốt có kích thước (11,5x6,5) cm; 01 túi nilong trong suốt có kích thước( 20x12)cm; 01 (một) túi xách da màu đen, có dây chéo, kích thước (44 x20) cm; 01 túi nilong trong suốt có kích thước( 8,5x5,5)cm, là các bao gói bị cáo dùng để đựng ma tuý, cần tịch thu và tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề liên quan khác trong vụ án:
Đối với người thanh niên bán ma tuý cho Trần Quốc K, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh tuy nhiên vẫn chưa xác định được nhân thân lai lịch của người này nên chưa có cơ sở để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi tàng trữ 01 khẩu súng, 07 viên đạn và 01 cây kiếm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã bàn giao cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q để điều tra, xử lý theo theo thẩm quyền.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc K (Tên gọi khác: B) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc K 03 năm 03 tháng (Ba năm ba tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/7/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) phong bì niêm phong kí hiệu MT856, được dán kín, bên ngoài có chữ ký của người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh Q. (Kèm theo kết luận giám định số: 856/KL-KTHS ngày 29/7/2025 của Phòng K1- Công an tỉnh Q và biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 31/7/2025).
- 01 (Một) túi niong trong suốt có kích thước (11,5x6,5) cm
- 01 (Một) túi nilong trong suốt có kích thước( 20x12)cm
- 01 (Một) túi xách da màu đen, có dây chéo, kích thước (44 x20) cm
- 01 (Một) túi nilong trong suốt có kích thước ( 8,5x5,5)cm.
Các vật chứng trên có đặc điểm như tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Quảng Trị. Hiện có tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Quảng Trị.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Trần Quốc K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc K
