Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 tháng 12 năm 2025

Về việc: “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Định.

2. Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Linh Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 221/2025/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/12/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Phạm Viết B, sinh năm 1981

Địa chỉ: xóm A, xã T, tỉnh Nghệ An

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Bà Thân Thị T, sinh năm 1976

Địa chỉ: tổ dân phố L, phường Y, tỉnh Bắc Ninh

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/9/2025 và bản tự khai, nguyên đơn ông Phạm Viết B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Thân Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08/11/2018 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau nhưng do tính tình và quan điểm sống không phù hợp, trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân, việc chung sống chỉ làm cho cuộc sống của cả hai bên thêm mệt mỏi; để ổn định cuộc sống cho mỗi bên, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Thân Thị T.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện ông B vì điều kiện công việc, ông không thể có mặt tham gia hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án, ông có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên hòa giải, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

* Tại Bản tự khai ngày 13/11/2025 bị đơn bà Thân Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà xác nhận quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Phạm Viết B, sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã T, tỉnh Nghệ An được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08/11/2018 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An). Sau khi hết hôn, vợ chồng chung sống tại Nghệ An một thời gian, sau đó cùng sang Đài Loan lao động làm ăn. Trong quá trình chung sống, do tính tình và quan điểm sống không phù hợp, giữa vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Đến năm 2023, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông B.

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông Phạm Viết B và bị đơn bà Thân Thị T đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ, Hội đồng xét xử nhận định

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Phạm Viết B có yêu cầu khởi kiện ly hôn với bà Thân Thị T. Hội đồng xét xử xác định là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Thân Thị T có nơi cư trú tại phường Y, tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 01/2025/NQ – HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.

Quan hệ hôn nhân và gia đình của các đương sự được xác lập năm 2018, đến nay Tòa án đang giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Viết B và bị đơn bà Thân Thị T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Ông Phạm Viết B và chị Thân Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08/11/2018 tại UBND xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An), nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quá trình chung sống của vợ chồng thì thấy: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Từ năm 2023, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, các bên không còn chung sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận

[2.2] Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Viết B và bà Thân Thị T đều thống nhất xác định vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Viết B và bà Thân Thị T đều thống nhất xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Ông Phạm Viết B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2025/NQ – HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Viết B
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Viết B được ly hôn bà Thân Thị T.
    • - Về con chung: Không xem xét
    • - Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét
  2. Về án phí: Ông Phạm Viết B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001277 ngày 07/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Bắc Ninh. Xác định ông B đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 1 – Bắc Ninh;
  • - Phòng THA khu vực 1 – Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Thiên Nhẫn, Nghệ An;
  • - UBND phường Yên Dũng, Bắc Ninh;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đinh Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về ly hôn

  • Số bản án: 45/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà xác nhận quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Phạm Viết Bắc, sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú tại xóm 1, xã Thiên Nhẫn, tỉnh Nghệ An được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08/11/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger