|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/DS-ST Ngày: 23/12/2025. “V/v Tranh chấp xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Hùng Cường.
- 2. Bà Ngô Thúy Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Cao Hoàng Sang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 108/2025/TLST-DS ngày 14/10/2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-DS ngày 18/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2025/QĐST-DS ngày 04/12/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Lê Thị Bé T, sinh năm 1991; Căn cước công dân số 087191009299 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt); Địa chỉ: Số A, ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp; Chổ ở: ấp M, Phường A, thành phố Cần Thơ; Điện thoại: 0775.133.517.
- - Bị đơn: Nguyễn Thanh L, sinh năm 1984; Căn cước công dân số 087084012542 (vắng mặt); Địa chỉ: số F, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Bé T trình bày:
Chị T và anh L do mai mối tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới vào năm 2010, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 191/2010 ngày 15/12/2010. Sau khi kết hôn thì chị T và anh L về sống nhờ nhà cha mẹ ruột của chị T tại: Số A, ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu thì chị T và anh L chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2015, đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc, thường xuyên cải vã. Năm 2017 chị T đi làm tại Cần Thơ còn anh L về nhà cha, mẹ ruột của anh L tại: số F, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp sống cho đến nay. Chị T sống ly thân với anh L từ năm 2017 cho đến nay. Chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn.
Chị Lê Thị Bé T cảm thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm không còn, tính tình không phù hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Phước V, sinh năm 12/9/2011 và Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 16/3/2014 (hiện nay 02 con đang sống với anh Nguyễn Thanh L). Chị T đồng ý giao 02 con cho anh Nguyễn Thanh L nuôi sau khi ly hôn, chị T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Lê Thị Bé T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị Lê Thị Bé T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản ghi lời khai ngày 04/12/2025 bị đơn anh Nguyễn Thanh L trình bày:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh L đồng ý ly hôn với chị Lê Thị Bé T. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Phước V, sinh năm 12/9/2011 và Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 16/3/2014 (hiện nay 02 con đang sống với anh Nguyễn Thanh L). Anh L yêu cầu được nuôi 02 con sau khi ly hôn, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, khi nào có tranh chấp anh L sẽ yêu cầu giải quyết sau. Về nợ chung: Anh L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chị T chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn anh L không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo hướng:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T và anh L, chị T được ly hôn với anh L.
- Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Phước V, sinh năm 12/9/2011 và Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 16/3/2014 cho anh L nuôi sau khi chị T và anh L ly hôn (hiện nay 02 con đang sống với anh L). Việc cấp dưỡng nuôi con do anh L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị T và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Chị T và anh L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét
- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị T yêu cầu ly hôn với anh L. Anh L có nơi cư trú tại: xã T, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp xin ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.
- [2] Về việc vắng mặt đương sự: Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 17/11/2025, anh L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa ngày 04/12/2025, tại phiên tòa lần hai ngày 23/12/2025 anh L vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị T và anh L là đúng quy định của pháp luật.
- [3] Về hôn nhân: Chị T và anh L do mai mối tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới năm 2010, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 191/2010 ngày 15/12/2010. Sau khi kết hôn thì chị T và anh L về sống nhờ nhà cha mẹ ruột của chị T tại: Số A, ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị T và anh L là hợp pháp.
Thời gian đầu thì chị T và anh L chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2015 đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc, thường xuyên cải vã. Năm 2017 chị T đi làm tại Cần Thơ còn anh L về nhà cha, mẹ ruột của anh L tại số F, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp sống cho đến nay, anh L sống ly thân với chị Thơ từ năm 2017 cho đến nay. Chị T và anh L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn, vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu xin ly hông và anh L đồng ý ly hôn. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình hôn nhân của chị T và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở, nên chấp nhận.
- [4] Về con chung: Chị T và anh L trình bày có 02 con chung tên Nguyễn Thị Phước V, sinh năm 12/9/2011 và Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 16/3/2014 (hiện nay 02 con đang sống với anh L). Chị T và anh L đồng ý giao 02 con chung cho anh L nuôi sau khi chị T và anh L ly hôn, việc cấp dưỡng nuôi con anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu V và cháu T1 là con chung của chị T và anh L, anh L hiện đang nuôi 02 cháu V và cháu T1 ổn định, anh L lo cho cháu V, cháu Tấn học đầy đủ, chị T đồng ý giao 02 con cho anh L, anh L cũng yêu cầu được nuôi 02 con sau khi ly hôn. Hai cháu V và T1 hiện đang sống với anh L, cháu V có văn bản trình bày ý kiến ngày 04/12/2025 trình bày nguyện vọng được sống với anh L sau khi chị T và anh L ly hôn. Căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình việc chị T và anh L thống nhất giao con anh L nuôi sau khi ly hôn là có cơ sở để chấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- [5] Về tài sản chung: Chị T và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- [6] Về nợ chung: Chị T và anh L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- [7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Bé T được chấp nhận nên chị T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- [8] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Bé T.
Chị Lê Thị Bé T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
- 2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Phước V, sinh năm 12/9/2011 và Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 16/3/2014 cho anh Nguyễn Thanh L nuôi sau khi chị Lê Thị Bé T và anh Nguyễn Thanh L ly hôn (hiện nay 02 con đang sống với anh Nguyễn Thanh L). Việc cấp dưỡng nuôi con, anh Nguyễn Thanh L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Chị Lê Thị Bé T có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai cản trở.
- 3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị Bé T và anh Nguyễn Thanh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- 4. Về nợ chung: Chị Lê Thị Bé T và anh Nguyễn Thanh L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- 5. Về án phí: Chị Lê Thị Bé T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị Lê Thị Bé T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004630 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp được trừ vào án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Lê Thị Bé T phải chịu (chị T đã nộp xong án phí)
- 6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- 7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Nhân |
Bản án số 45/2025/DS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 45/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
