TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HS-ST Ngày: 29/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Ông Ngô Văn Lưu
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Đinh Quang D, sinh năm 1987;
Nơi thường trú: Thôn H, xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Quang Q, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1964; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Vũ Thị N, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2018.
Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Bắc Ninh. (Có mặt)
2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976;
Nơi thường trú: Tổ dân phố Đ, phường K, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1951 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1952; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị T3, sinh năm 1975 và 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2000.
Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Bắc Ninh. (Có mặt)
* Bị hại: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1979; nơi thường trú: Tổ dân phố M, phường P, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/10/2025, do không có tiền tiêu xài cá nhân, Đinh Quang D cùng Nguyễn Văn T1 rủ nhau đến phường V, tỉnh Bắc Ninh để xem ai có tài sản sơ hở là xe mô tô thì sẽ trộm cắp đem bán lấy tiền ăn tiêu. Trước khi đi, D chuẩn bị 01 vam phá khóa hình chữ L bằng sắt màu trắng, một đầu bẹp dài 05cm, một đầu lục giác dài 11cm để trong túi quần bên phải. Sau đó, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu xanh đen trắng, BKS: 79U2-2455 chở T1 ngồi phía sau đi đến khu vực trước cửa số LK11, đường L, thuộc tổ dân phố K, phường V, tỉnh Bắc Ninh thì phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, BKS: 99E1-297.97 màu nâu vàng của anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1979, nơi thường trú: Tổ dân phố M, phường P, tỉnh Bắc Ninh đang dựng trên vỉa hè, đầu xe hướng vào cửa nhà, đuôi xe quay ra ngoài đường, chỉ khóa cổ, không khóa càng. D điều khiển xe chở T1 đi qua đi lại hai vòng, thấy không có ai trông giữ chiếc xe mô tô trên nên D dừng xe cách vị trí chiếc xe mô tô trên khoảng 15m. D xuống xe tiến lại gần vị trí để chiếc xe mô tô trên, cầm 01 vam phá khóa hình chữ L chọc vào ổ khóa của xe, vặn theo chiều kim đồng hồ để mở khóa điện của xe, còn T1 ngồi trên xe để cảnh giới. Khoảng 03 giây sau, D phá được khóa, rồi ngồi lên xe vừa trộm cắp được nổ máy bỏ đi. Thấy vậy, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, BKS: 79U2-2455 đi theo cùng nhau về nhà của T1 tại Tổ dân phố Đ, phường K, tỉnh Bắc Ninh để cất giấu. Khi này, cả hai mới phát hiện biển kiểm soát gắn trên xe Honda Future FI đã bị rơi mất ở đâu không rõ.
Ngày 10/10/2025, anh Nguyễn Văn L1 đến Công an phường V, tỉnh Bắc Ninh trình báo sự việc anh L1 bị trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Future FI.
Cùng ngày, Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1 đến Công an phường V đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ được gồm có:
- + 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu sơn: nâu vàng; không biển kiểm soát; số máy: JC54E3082911; số khung: RLHJC5389EZ054703, xe cũ đã qua sử dụng.
- + 01 chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, màu xanh đen trắng, BKS: 79U2-2455; số máy: 1S9A-051396; số khung: RLCE1S9A0DY051381, xe cũ đã qua sử dụng.
- + 01 vam phá khóa hình chữ L, bằng sắt màu trắng, một đầu bẹp dài 5cm, một đầu lục giác dài 11cm.
- - 01 đĩa DVD lưu trữ 02 video được trích xuất từ camera an ninh nhà chị Trịnh Thị Thu H, địa chỉ: Số I, đường L, tổ dân phố K, phường V, tỉnh Bắc Ninh cung cấp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND phường V kết luận:
“01 (một) chiếc xe mô tô: Nhãn hiệu: H1; Màu sơn: Nâu vàng; BKS: 99E1-297.97; Số máy: JC54E3082911, Số khung: RLHJC5389EZ054703; Dung tích xi lanh: 125 cm³; Năm sản xuất: 2015; Thời gian bắt đầu sử dụng: 07/3/2016, tình trạng: Đã qua sử dụng, không bị thay đổi kết cấu của xe, xe hoạt động bình thường. Thời điểm định giá có giá trị tài sản là 6.200.000 đồng”.
Tại bản kết luận giám định số: 3042/KL-KTHS ngày 24/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“Số máy, số khung của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 79U2-2455 gửi giám định không bị tẩy xoá, đóng đục lại. Hàng chữ số đóng trên thân máy: 1S9A-051396 và hàng chữ số đóng trên khung xe: RLCE1S9A0DY051381 là nguyên thuỷ;
Số máy, số khung của xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI không gắn biển kiểm soát, gửi giám định không bị tẩy xoá, đóng đục lại. Hàng chữ số đóng trên thân máy: JC54E-3082911 và hàng chữ số đóng trên khung xe: RLHJC5389EZ054703 là nguyên thuỷ;
Biển kiểm soát 79U2-2455 gửi giám định không đúng với mẫu so sánh lưu tại Phòng K1 - Công an tỉnh B.”
Với nội dung trên, Cáo trạng số 50/CT-VKSKV6 ngày 09/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh đã truy tố Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội.
Bị hại anh Nguyễn Văn L1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, thể hiện: Anh L1 đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đinh Quang D từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng.
- Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Đinh Quang D, Nguyễn Văn T1 đang bị tạm giam, nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, màu xanh đen trắng; số máy: 1S9A-051396; số khung: RLCE1S9A0DY051381 là phương tiện sử dụng việc phạm tội.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 vam phá khóa hình chữ L, bằng sắt màu trắng, một đầu bẹp dài 5cm, một đầu lục giác dài 11cm; 01 biển số xe BKS: 79U2-2455.
- Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu trữ 02 video hình ảnh các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là chứng cứ vụ án.
Về án phí: Bị cáo Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo đồng ý với đề xuất của đại diện Viện kiểm sát, không tham gia tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để được cải tạo, giáo dục tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại được tài sản, không có yêu cầu nào khác, do vậy việc vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/10/2025, Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1 đã rủ nhau đi trộm cắp tài sản. D điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, BKS: 79U2-2455 của D chở T1 ngồi phía sau đến trước cửa số LK11, đường L, thuộc tổ dân phố K, phường V, tỉnh Bắc Ninh thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, BKS: 99E1-297.97 của anh Nguyễn Văn L1 không có ai trông coi nên T1 đứng cảnh giới, còn D đã dùng vam phá khóa hình chữ L, bằng sắt màu trắng, một đầu bẹp dài 5cm, một đầu lục giác dài 11cm chọc vào ổ khóa của xe và vặn theo chiều kim đồng hồ để mở khóa. Sau đó, D điều khiển xe mô tô Honda Future FI, BKS: 99E1-297.97 vừa trộm cắp được còn T1 điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, BKS: 79U2-2455 của D đi theo về nhà T1 tại tổ dân phố Đ, phường K, tỉnh Bắc Ninh để cất giấu tài sản vừa trộm cắp. Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, BKS : 99E1-297.97 của anh Nguyễn Văn L1 là 6.200.000 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1 cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Bắc Ninh truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Nhà nước bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh trong xã hội và gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn hưởng lợi một cách nhanh chóng nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
[4] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi sự việc bị phát hiện, cả hai bị cáo đã tự nguyện đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên cả hai bị cáo D và T1 đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét vị trí vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án:
Các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể từ trước hay cấu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều rủ nhau đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trong đó: Bị cáo D là người chuẩn bị công cụ phạm tội là 01 vam phá khóa hình chữ L bằng sắt màu trắng, phương tiện phạm tội là chiếc xe Yamaha Exciter, BKS: 79U2-2455 và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda Future FI, BKS: 99E1-297.97 của anh Nguyễn Văn L1 nên bị cáo D có vai trò cao hơn. Bị cáo T1 có vai trò giúp sức tích cực khi là người cảnh giới để D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và cùng D mang tài sản trộm cắp được cất giấu tại nhà của T1.
[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Bắc Ninh thì thấy bị cáo D, T1 đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Đối chiếu quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Văn bản hợp nhất 03/VBHN-TANDTC 2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xét thấy các bị cáo đủ điều kiện áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng, khó thi hành hình phạt bổ sung nên Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu sơn: Nâu vàng; số máy: JC54E3082911; số khung: RLHJC5389EZ054703 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn L1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh L1 là phù hợp.
Đối với 01 chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, màu xanh đen trắng; số máy: 1S9A-051396; số khung: RLCE1S9A0DY051381 thu giữ của Đinh Quang D là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 vam phá khóa hình chữ L, bằng sắt màu trắng, một đầu bẹp dài 5cm, một đầu lục giác dài 11cm là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với BKS: 79U2-2455 gắn trên xe mô tô Yamaha Exciter của D, theo kết quả giám định xác định không đúng mẫu lưu tại Phòng K1 - Công an tỉnh B, xét thấy là vật chứng không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đĩa DVD lưu giữ 2 đoạn video ghi lại hình ảnh các bị cáo phạm tội là chứng cứ nên lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn L1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu nào khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Liên quan trong vụ án:
Đối với Đinh Quang D điều khiển xe mô tô không có chứng nhận đăng ký xe, không có giấy phép lái xe vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 13, Điểm b Khoản 5 Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có Công văn đề nghị đến Phòng C Công an tỉnh B để xử phạt theo thẩm quyền là phù hợp.
Đối với 01 chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, màu xanh đen trắng có số máy: 1S9A-051396; số khung: RLCE1S9A0DY051381 gắn BKS: 79U2-2455 thì D khai nhận mua của một người trên mạng với giá 8.000.000 đồng, khi mua xe không có giấy tờ, đã gắn biển kiểm soát sẵn, D không biết biển kiểm soát 79U2-2455 không có trên hệ thống. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên mang BKS 81E1-057.12 đăng ký tên anh K, sinh năm 1985; nơi thường trú tại Làng Đ, xã K, tỉnh Gia Lai, anh K khai nhận mua chiếc xe trên từ khoảng tháng 2/2014 đến giữa năm 2015 đã bán, không nhớ người mua, khi bán chưa sang tên đổi chủ. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe này không có trong có sở dữ liệu vật chứng. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ về biển kiểm soát không có trong hệ thống, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[11] Về án phí: Bị cáo Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Đinh Quang D 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo Nguyễn Văn T1 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo T1 cho Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ vào Điều 328 Bộ luật tố tụng dân sự: Quyết định trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1 đang bị tạm giam, nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, số máy: 1S9A-051396; số khung: RLCE1S9A0DY051381, xe đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vam phá khóa hình chữ L, bằng sắt màu trắng, một đầu bẹp dài 5cm, một đầu lục giác dài 11cm; 01 BKS số 79U2-2455.
- (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 40/2026 ngày 10/12/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Bắc Ninh).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đinh Quang D và Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Lưu Thị Tuyết Nhung |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Quang D và ĐP - Trộm cắp tài sản
