Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – AN GIANG

Bản án số: 44/2025/HSST

Ngày: 25-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Danh Quí
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Đoan

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 – An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại Toà án nhân dân Khu vực 5 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/HS-ST, ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 324/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Trần Trung T, sinh ngày 23/9/2002

Nơi cư trú: ấp A, xã G, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12. Con ông: Trần Thành T1, sinh ngày 11/02/1982; con bà: Thị Kim T2, sinh ngày 0101/1984; Bị cáo có 02 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất là sinh năm 2007, bị cáo là người con lớn trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Trung T bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 464/LC-VPCQCSĐT ngày 08/4/2025 và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1868/LC-VPCQCSĐT ngày 23/7/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 02/ LCCT-VKSND-KV5 ngày 10/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 38/ LCĐKNCT-TA ngày 29/10/2025 và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 51/ LC ĐKNCT-TA ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang đối với bị cáo Trần Trung T.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Danh Thành Đ, sinh ngày 21/3/2004

Nơi cư trú: ấp A, xã G, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 7/12. Con ông: Nguyễn Văn C, chết năm 2019; con bà: Thị Thượng, chết năm 2020; Bị cáo có 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất là sinh năm 2013, bị cáo là người con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo Danh Thành Đ bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: C75/LC-VPCQCSĐT ngày 24/6/2025 và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1869/LC-VPCQCSĐT ngày 23/7/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 01/ LCCT-VKSND-KV5 ngày 10/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 37/ LCĐKNCT-TA ngày 29/10/2025 và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 50/ LC ĐKNCT-TA ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang đối với bị cáo Danh Thành Đ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

* Bị hại: Danh Đăng K, sinh ngày 01/01/2005 (có mặt)

Địa chỉ: ấp E, xã V, tỉnh An Giang

* Người làm chứng:

  1. Anh Danh Bảo D, sinh năm 2006 (có mặt)
  2. Địa chỉ: ấp A, xã G, tỉnh An Giang.

  3. Chị Danh Y T3, sinh năm 1999 (có đơn xin vắng mặt)
  4. Địa chỉ: ấp A, xã G, tỉnh An Giang

  5. Bà Trần Thị N, sinh năm 1958 (có mặt)
  6. Địa chỉ: ấp A, xã G, tỉnh An Giang.

  7. Bà Trần Thị M, sinh năm 1972 (có mặt)
  8. Địa chỉ: ấp A, xã G, tỉnh An Giang.

  9. Bà Thị Đ1, sinh năm 1975 (có mặt)
  10. Địa chỉ: ấp A, xã G, tỉnh An Giang.

  11. Anh Huỳnh Tiến H, sinh năm 2007 (có mặt)
  12. Địa chỉ: ấp A, xã G, tỉnh An Giang.

  13. Chị Danh Thị Ái M1, sinh năm 1998 (có mặt)
  14. Địa chỉ: ấp A, xã G, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/01/2025, Trần Trung T mượn xe biển số 95B1-753.93 của Danh Thành Đ đi từ nhà của mình thuộc ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp A, xã G, tỉnh An Giang) ra chùa S Mới để xem đua ghe ngo. Khi đi ngang nhà bà Thị C1, sinh năm: 1935, địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp A, xã G, tỉnh An Giang) thì gặp Danh Đăng K đang ngồi xem đua ghe ngo dưới mé sông trước nhà bà C1. Lúc này T nhớ lại chuyện đánh nhau với K vào tối ngày 29/01/2025 nên nảy sinh ý định đánh K để trả thù. Do để quên điện thoại ở nhà nên T chạy xe về nhà lấy điện thoại, khi về đến nhà thì gặp Danh Thành Đ, Đ xin đi theo để ra chùa xem đua ghe ngo. Lấy điện thoại xong T chở Đ đi ra hướng chùa S1, khi đi ngang một nhà máy xây lúa thì T dừng xe xuống nhặt một khúc cây gỗ tròn dài 90cm, đường kính mỗi đầu là 5cm và 5,5cm, Đ hỏi T nhặt cây để làm gì thì T trả lời là nhặt chơi. Sau đó T lên xe ngồi để Đ chở đi. Cả hai chạy xe đến trước nhà bà C1 thì thấy K, T kêu Đ dừng xe và xuống cầm cây đuổi đánh K, thấy vậy K bỏ chạy vào nhà bà C1, khi chạy gần tới hàng ba trước nhà thì bị Đ đang đứng sẵn ở đó và Đ dùng chân phải đạp trúng vào hông bên phải của K một cái làm K ngã khuỵu gối xuống đất mặt hướng vào nhà. Sau đó T dùng tay phải cầm cây chạy tới đánh hướng từ trên xuống, từ phải qua trái trúng vào đầu phía bên phải của một cái, K đứng dậy chạy vào nhà và được chị Danh Thị Ái M1 lấy khăn bàng bó vết thương, còn Đ và T thì lên xe chạy đi, khi đi đến cầu qua chùa T4 ném khúc cây xuống sông và cả hai cùng chạy về nhà của T. Về phần Khoa được người nhà đưa đến bệnh viện đa khoa Kiên Giang nhập viện điều trị, đến ngày 03/02/2025 thì xuất viện. Đến ngày 17/02/2025 Danh Đăng K có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và đơn yêu cầu giám định thương tích và giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra Trần Trung T và Danh Thành Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại kết luận giám định thương tích số: 63/KLTTCT-PY ngày 06 tháng 03 năm 2025 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh K đối với Danh Đăng K, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Danh Đăng K tại thời điểm giám định là: 22% (hai mươi hai phần trăm); V vây thương tích: Vật tày có cạnh; Về cơ chế hình thành thương tích: Thương tích vùng thái dương - đỉnh phải do vật tày tác động theo hướng từ trên xuống, từ phải qua trái so với trực giải phẫu của cơ thể.

* Tại kết luận giám định vật gây thương tích số 36/KLVGTT-PY ngày 21 tháng 03 năm 2025 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh K kết luận: Mẫu vật (đoạn gỗ) gửi giám định có đặc tính tương tự với đặc tính của vật gây nên thương tích ở vùng thái dương - đỉnh phải của Danh Đăng K nên có thể gây ra được thương tích trên cho Danh Đăng K; Về độ cứng và độ chắc của mẫu vật: Mẫu vật (đoạn gỗ) gửi giám định có mặt độ cứng và gắn chắc.

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSND-KV5, ngày 28/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang truy tố bị cáo Trần Trung T và bị cáo Danh Thành Đ về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Trung T và bị cáo Danh Thành Đ tội: “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời, đề nghị HĐXX như sau:

* Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ Luật Hình sự, đề nghị xử phạt: bị cáo Trần Trung T từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam. Bị cáo Danh Thành Đ từ 12 tháng đến 18 tháng tù giam.

* Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy một đoạn cây gỗ hình tròn dài 90cm, đường kính hai đầu lần lượt là 5cm và 5,5cm, cây khô có vỏ bên ngoài.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã bồi thường chi phí điều trị, tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 22.500.000đồng (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng) và bị cáo Đ đã bồi thường chi phí điều trị, tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 20.500.000đồng (hai mươi triệu năm trăm ngàn đồng), tổng số tiền bị hại đã nhận của 02 bị cáo bằng 43.000.000đồng (Bốn mươi ba triệu đồng). Bị hại không yêu cầu gì thêm nên Viện kiểm sát không đề nghị gì thêm.

Bị cáo Trần Trung T và bị cáo Danh Thành Đ trình bày tại phiên tòa: Bị cáo T và bị cáo Đ thừa nhận tất cả hành vi phạm tội của hai bị cáo thực hiện đúng như Cáo trạng truy tố, hai bị cáo thừa nhận hành vi của mình là phạm tội Cố ý gây thương tích, bị cáo T và Đ thấy ăn năn, hối cải với hành vi của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo để được trở về với gia đình đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình.

Bị hại Danh Đăng K trình bày tại phiên tòa: anh K thống nhất với lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo T và bị cáo Đ. Anh K đồng ý với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, đồng ý với tỷ lệ thương tật của mình theo kết luận giám định. Anh K cũng thừa nhận đã nhận tiền bồi thường của bị cáo T số tiền 22.500.000đồng (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng) và bị cáo Đ số tiền 20.500.000đồng (hai mươi triệu năm trăm ngàn đồng). Về trách nhiệm dân sự anh K không yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự anh K vẫn giữ nguyên nội dung theo đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, bị cáo Đ và xin HĐXX xử nhẹ hình phạt cho bị cáo T, bị cáo Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao – Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục Tố tụng: Người làm chứng chị Đ1 Y Tinh có đơn xin xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – An Giang và bị cáo không có ý kiến đối với việc vắng mặt của chị Y T3 và yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy chị Y T3 đã có lời khai đầy đủ liên quan đến nội dung vụ án ở giai đoạn điều tra nên việc vắng mặt của chị T3 không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Xét lời khai của bị cáo Trần Trung T và bị cáo Danh Thành Đ tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại cáo tại Cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, các đồ vật thu giữ được gồm một đoạn cây gỗ hình tròn dài 90cm, đường kính hai đầu lần lượt là 5cm và 5,5cm, ... nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng hơn 13 giờ 30 phút ngày 30/01/2025, do mâu thuẫn xảy ra trước đó nên Trần Trung T dùng cây đánh trúng vùng đầu của bị hại Danh Đăng K dẫn đến thương tích 22%, Danh Thành Đ tuy không có mâu thuẫn với Danh Đăng K nhưng do đi chung với T và khi thấy T đuổi đánh K thì Đ đã dùng chân đạp làm K ngã xuống sàn dẫn đến việc K bị T đánh trúng vào đầu gây thương tích, với tỷ lệ thương tích là 22% (Hai mươi hai phần trăm). Vật gây thương tích là vật tày có cạnh.

Hành vi của bị cáo T và bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang truy tố bị cáo T và bị cáo Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại điểm đ khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự quy định tội "Cố ý gây thương tích" như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
  • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
  • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
  • Có tổ chức;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
  • Có tính chất côn đồ;
  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
  • Gây thương tịch hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Tái phạm nguy hiểm;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này".

[4] Bị cáo Trần Trung T và bị cáo Danh Thành Đ là người có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, hai bị cáo biết rõ sức khỏe của con người là vốn quý, được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến sức khỏe của người khác đều bị xử lý nghiêm minh. Nhưng do mâu thuẫn cá nhân, bị cáo T đã không kiềm chế được bản thân, bị cáo T đã dùng khúc gỗ tác động vào đầu của bị hại, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 22%. Còn bị cáo Đ mặc dù không có mâu thuẫn với anh K nhưng bị cáo Đ đã có hành vi dùng chân đạp vào người của K làm cho K té xuống tạo cơ hội cho bị cáo T thực hiện hành vi dùng cây đánh trúng vào đầu của anh K. Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T và bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T và bị cáo Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo; hai bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét đầy đủ toàn diện, khách quan các tình tiết của vụ án, đối chiếu với quy định pháp luật, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát khu vực 5 – An Giang. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội xét thấy bị cáo T, bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hai bị cáo là đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công vai trò cụ thể từ trước giữa các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng. việc áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T và bị cáo Đ là có căn cứ pháp luật, phù hợp với chính sách nhân đạo của Nhà nước, đồng thời vẫn đảm bảo mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với một đoạn cây gỗ hình tròn dài 90cm, đường kính hai đầu lần lượt là 5cm và 5,5cm, cây khô có vỏ bên ngoài là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Vật chứng được bàn giao tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – An Giang theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/12/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T và bị cáo Đ đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 43.000.000đồng (Bốn mươi ba triệu đồng). Bị hại không yêu cầu gì thêm và Viện kiểm sát không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang truy tố bị cáo T và bị cáo Đ về tội danh, về điều luật áp dụng, về hình phạt, về biện pháp tư pháp, về trách nhiệm dân sự là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo T và bị cáo Đ phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ Luật Hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung T và bị cáo Danh Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Trung T 18 tháng (mười tám) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Xử phạt: Bị cáo Danh Thành Đ 12 tháng (mười hai) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

* Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy một đoạn cây gỗ hình tròn dài 90cm, đường kính hai đầu lần lượt là 5cm và 5,5cm, cây khô có vỏ bên ngoài.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

* Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm bằng 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) và bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm bằng 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng).

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo T, bị cáo Đ và bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 25/12/2025. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKS khu vực 5 – An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - Công an xã Gò Quao, Công an Khu vực;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HS.

Danh Thị Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HSST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 44/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trung T, Danh Thành Đ - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger