Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày 23-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Huỳnh Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Minh Châu;

2. Ông Trần Duy Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Trinh Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Đồng Tháp, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST-HS, ngày 15 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Trần Vũ L, sinh ngày 13/11/2002, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Minh C, sinh năm 1981 và bà Lê Hồng N, sinh ngày 01/01/1985; Vợ: Phạm Thị Thúy K, sinh năm 2002; Con: 01 người, sinh năm 2023 (Khai tại phiên tòa con tên Trần Hải Đ); A, chị em ruột: Có 02 người, bị can là con thứ nhất trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Tạm giữ: Không; Tạm giam: từ ngày 28/8/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam H4, Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  2. Đinh Lê T, sinh ngày 09/11/2002, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Đinh Văn B, sinh ngày 29/8/1964 và bà Lê Thị H, sinh ngày 08/10/1966; Vợ, con: chưa có; Anh, chị em ruột: 03 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần. Ngày 20/5/2024, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp (xét xử phúc thẩm), xử phạt 05 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, chấp hành xong ngày 17/12/2024. Nhân thân: ngày 29/4/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp (xét xử phúc thẩm), xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (tội phạm nghiêm trọng, thời điểm xét xử chưa đủ 18 tuổi), chấp hành xong ngày 27/4/2022. Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  3. Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 16/6/2004, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 13/6/1979 và bà Lư Thị Tuyết H2, sinh ngày 23/9/1981; Vợ, con: chưa có; Anh, chị em ruột: 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền sự: 01 lần. Ngày 05/9/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 15/6/2024; Tiền án: Không. Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  4. Lê Văn K1, sinh ngày 29/6/2005, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lê Văn L1, sinh ngày 01/01/1978 và bà Nguyễn Thị Ú, sinh ngày 01/01/1977; Vợ, con: chưa có; Anh, chị em ruột: 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền sự và Tiền án: Không. Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc thời gian là 12 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Tháp, theo Quyết định số 10/QĐ-TA ngày 08/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Võ Văn C1, sinh năm 1974 (có mặt tại phiên tòa)

Nơi cư trú: ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1994 (có mặt tại phiên tòa).
  2. Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 1986 (vắng mặt tại phiên tòa).
  4. Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Phạm Ngọc T2, sinh năm 2003 (vắng mặt tại phiên tòa).
  6. Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.

  7. Nguyễn Thị Bảo T3, sinh ngày 06/10/2007 (vắng mặt tại phiên tòa).
  8. Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.

  9. Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1977 (vắng mặt tại phiên tòa).
  10. Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Lê Văn N1, sinh năm 1946 (vắng mặt tại phiên tòa).
  2. Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Trần Thị C2, sinh năm 1978 (vắng mặt tại phiên tòa).
  4. Nơi cư trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Hà Văn B1, sinh năm 1973 (vắng mặt tại phiên tòa).
  6. Nơi cư trú: ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 22/4/2025, Đinh Lê T cùng với Lê Văn K1, Nguyễn Ngọc T1 và Trần Vũ L chơi ở nhà T. Sau đó, K1 điều khiển xe R (không biển số) chở L, T điều khiển xe Exciter biển số 66H1-221.70 chở T1, theo đường nội đồng về hướng thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (trước khi bỏ cấp Huyện). Khi đến khu vực ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp) thấy xe mô tô Wave RSX biển số 66H1-144.63 màu đỏ đen của ông Võ Văn C1, xe không người trông coi và chìa khóa có sẵn trên xe nên L rủ T, K1, T1 trộm cắp xe, cả nhóm đồng ý. Xe của K1 và T dừng và quay đầu xe lại, cách xe Wave RSX khoảng 1,5 mét nhằm mục đích sẽ chở L chạy thoát khi bị phát hiện, truy đuổi. Lúc này, L quay đầu xe mô tô Wave RSX 66H1-144.63 về hướng thị trấn T (nay là xã T), khởi động xe bỏ chạy; L chạy trước, kế tiếp là xe K1 điều khiển và cuối cùng là xe T điều khiển chở T1 cùng chạy về hướng thành phố H (trước khi bỏ cấp Huyện); chạy một đoạn, L dừng xe tháo biển số xe 66H1-144.63 ném bỏ. Tất cả điều khiển xe về phòng trọ của Nguyễn Thanh H3 tại phường A, tỉnh Đồng Tháp.

Sau đó, T điều khiển xe mô tô 66H1-144.63, gửi cho Phạm Ngọc T2 giữ; T hỏi mượn Thạch 3.000.000đồng, T2 không biết xe do trộm cắp có được. T về phòng trọ của H3, trả cho H3 500.000đồng và chia cho T, L, K1, T1 mỗi người 600.000đồng; còn 100.000đồng cho Nguyễn Thị Bảo T3. Ông Võ Văn C1 phát hiện xe bị mất trộm nên trình báo Công an xã T (nay là Công an xã T).

- Kết luận định giá tài sản số: 95/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Đồng Tháp kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại JA31 Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66H1-144.63, số máy JA31E0169327, số khung 3111EY088978, đã qua sử dụng, sản xuất năm 2014, trị giá tài sản tại thời điểm ngày 22/4/2025 là 6.167.000đồng.

- Kết luận giám định số 537/KL-KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh đối với tệp tin video trong mẫu cần giám định.

- Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1, Lê Văn K1 nhận dạng qua hình ảnh, xác định Trần Vũ L là người cùng T, T1, K1 trộm cắp tài sản và điều khiển xe mô tô lấy trộm được (Xe wave RSX).

- Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Lê Văn K1, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1, Trần Vũ L nhận dạng qua video; cả 04 bị can đều xác định người trong đoạn video là Lê Văn K1, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1 và Trần Vũ L và đều thừa nhận cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô. Sau khi trộm, Trần Vũ L điều khiển xe Wave RSX (xe lấy trộm); Lê Văn K1 điều khiển xe Raider; Đinh Lê T điều khiển xe Exciter chở Nguyễn Ngọc T1.

- Ngày 22/7/2025, Phạm Ngọc T2 nhận dạng qua hình ảnh, xác định Đinh Lê T là người đem xe Wave RSX màu đỏ đen, không biển số đến nhà T2 gửi và T2 có cho T mượn số tiền 3.000.000đồng.

- Ngày 22/7/2025, Nguyễn Thanh H3 nhận dạng qua hình ảnh, xác định được Lê Văn K1, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1, Trần Vũ L có điều khiển xe Wave RSX, màu đỏ đen vào phòng trọ của H3.

- Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX, màu đỏ đen, số máy JA31E0169327, số khung 3111EY088978, không biển số, đã qua sử dụng. Đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Võ Văn C1, bị lấy trộm. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại ông C1.
  • Đối với biển số xe 66H1-144.63 màu trắng đen, đã qua sử dụng, biển số xe mô tô của ông Võ Văn C1. Sau khi lấy trộm xe, trên đường điều khiển xe chạy đi, Trần Vũ L đã tháo và bỏ ven đường. Cơ quan điều tra đã Thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không tìm được.
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, số loại RAIDER, màu xanh đen, số máy CGA1548053, số khung RLSDL11ANLV148008, biển số 66H1-416.15, đã qua sử dụng. Đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị Ú (mẹ ruột Lê Văn K1), không biết K1 điều khiển xe đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho bà Ú.
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA số loại Exciter, màu đỏ đen, số máy 1S94036383, số khung 1S9409Y036382, biển số 66H1-221.70, đã qua sử dụng. Đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thành Đ1, giao cho Nguyễn Thanh H3 quản lý, H3 cho T mượn làm phương tiện đi lại. Ý thức Được và H3 không biết việc T điều khiển xe đi trộm cắp tài sản.
  • + 01 đĩa DVD-R, có chứa 01 tệp video có tên: 16.15.00-16.20.00[R][0@0][0].dav, có thời lượng 04 phút 59 giây, có dung lượng 04 phút 59 giây, có dung lượng 63MB. Sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, ghi Niêm phong số 483 ngày 22/5/2025; đóng dấu hình tròn, màu đỏ “PHÒNG K2 - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP”; các chữ ký ghi họ, tên: Đặng Huy P và Lâm Trọng N2.
  • + Tiền Việt Nam: 100.000đồng, do Lê Văn K1 giao nộp, là tiền thu lợi bất chính có được.
  • + Tiền Việt Nam: 120.000đồng (trong đó Nguyễn Thanh H3 nộp 100.000đồng, Nguyễn Thị Bảo T3 giao nộp 20.000đồng) không liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho H3, T3.
  • + 01 mũ bảo hiểm màu xanh, ở giữa chính diện mũ bảo hiểm và hai bên mũ có logo màu xanh, có dòng chữ PIAGGIO màu trắng (đã qua sử dụng). Đây là tài sản hợp pháp của Lê Văn K1, không liên quan đến vụ án.
  • + 01 áo khoác màu trắng, có hai đường sọc màu xanh ở hai tay áo, phía sau áo có chữ RIGHT NOW R”, đã qua sử dụng. Đây là áo của L mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra, các bị cáo Trần Vũ L, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1, Lê Văn K1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản nhận dạng, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

  • + Bị hại Võ Văn C1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường.
  • + Bị cáo Đinh Lê T đã trả lại Phạm Ngọc T2 số tiền đã mượn 3.000.000đồng, Phạm Ngọc T2 không yêu cầu gì thêm. T không yêu cầu Trần Vũ L, Lê Văn K1, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Thanh H3 và Nguyễn Thị Bảo T3 trả lại tiền.

Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKS-KV12, ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Đồng Tháp truy tố các bị cáo Trần Vũ L, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1, Lê Văn K1 về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong nên không đề cập đến.

Về xử lý vật chứng: Trả lại Nguyễn Thành Đ1 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA số loại Exciter, màu đỏ đen, số máy 1S94036383, số khung 1S9409Y036382, biển số 66H1-221.70, đã qua sử dụng;

Trả lại bị cáo Lê Văn K1: 01 mũ bảo hiểm màu xanh, ở giữa chính diện mũ bảo hiểm và hai bên mũ có logo màu xanh, có dòng chữ PIAGGIO màu trắng (đã qua sử dụng); Trả lại bị cáo Trần Vũ L: 01 áo khoác màu trắng, có hai đường sọc màu xanh ở hai tay áo, phía sau áo có chữ RIGHT NOW R”, đã qua sử dụng;

Buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính, gồm: Trần Vũ L 600.000đồng, Nguyễn Ngọc T1 600.000đồng, Lê Văn K1 500.000đồng.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền Việt Nam 100.000đồng.

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R, có chứa 01 tệp video có tên: 16.15.00-16.20.00[R][0@0][0].dav, có thời lượng 04 phút 59 giây, có dung lượng 04 phút 59 giây, có dung lượng 63MB. Sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, ghi Niêm phong số 483 ngày 22/5/2025; đóng dấu hình tròn, màu đỏ “PHÒNG K2 - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP”; các chữ ký ghi họ, tên: Đặng Huy P và Lâm Trọng N2.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Đồng Tháp thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của các bị cáo Trần Vũ L, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1, Lê Văn K1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Vũ L từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Lê T từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn K1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như Cao trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Vũ L, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1, Lê Văn K1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo Trần Vũ L, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1 và Lê Văn K1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu của bản thân, các bị cáo đã lợi dụng tình hình tài sản (xe môtô) của người khác không người trông coi và chìa khóa có sẵn trên xe, khi không ai cảnh giác, nên đã lén lút lấy trộm tài sản là xe môtô của bị hại ông Võ Văn C1, với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tài sản mà các bị cáo lén lút trộm chiếm đoạt của bị hại là 01 (một) xe môtô Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66H1-144.63, với trị giá là 6.167.000đồng. Sau khi lấy trộm tài sản trên các bị cáo đã gửi xe cho người khác với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã hoàn thành.

Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của các bị cáo Trần Vũ L, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1 và Lê Văn K1 đã phạm tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm .....

[3] Xét về tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự bất chấp xem thường pháp luật. Tội phạm mà các bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

[4] Về nhân thân của các bị cáo:

  • - Bị cáo Trần Vũ L: Tiền án, tiền sự: Không.
  • - Bị cáo Đinh Lê T: Tiền án: 01 lần, ngày 20/5/2024, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp (xét xử phúc thẩm), xử phạt 05 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, chấp hành xong ngày 17/12/2024. Tiền sự: Không. Nhân thân: ngày 29/4/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp (xét xử phúc thẩm), xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (tội phạm nghiêm trọng, thời điểm xét xử chưa đủ 18 tuổi), chấp hành xong ngày 27/4/2022.
  • - Bị cáo Nguyễn Ngọc T1: Tiền án: Không. Tiền sự: 01 lần, ngày 05/9/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 15/6/2024.
  • - Bị cáo Lê Văn K1: Tiền án: Không. Tiền sự: Hiện bị cáo đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc thời gian là 12 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Tháp, theo Quyết định số 10/QĐ-TA ngày 08/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T: Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo L, K1, T1: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo L, K1, T1: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Trong vụ án này, các bị cáo đều cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Trần Vũ L là người rủ rê, trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô và điều khiển xe về nơi cất giữ, các bị cáo Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1 và Lê Văn K1 với vai trò giúp sức cùng thực hiện hành vi. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà từng bị cáo thực hiện để quyết định hình phạt cho tương xứng.

[7] Khi quyết định hình phạt, căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo như phân tích ở trên. Nhận thấy, hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho các bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như các bị cáo.

[8] Hiện nay bị cáo Lê Văn K1 đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc 12 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Tháp, theo Quyết định số 10/QĐ-TA ngày 08/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp. Căn cứ Điều 117 của Luật xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án là hình phạt tù của Bản án này thì bị cáo được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nêu trên.

[9] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự có quy định: “5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy hiện nay các bị cáo đang làm thuê hoặc không có việc làm, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[10] Các tình tiết khác của nội dung vụ án:

Đối với Phạm Ngọc T2 nhận giữ xe mô tô 66H1-144.63 và cho bị cáo T mượn 3.000.000đồng, Nguyễn Thị Bảo T3 được bị cáo T cho tiền, tất cả không biết các bị cáo L, T, K1, T1 có được xe mô tô và tiền từ việc trộm cắp tài sản nên không đề cập đến trách nhiệm hình sự.

Đối với bà Nguyễn Thị Ú là chủ sở hữu hợp pháp xe Raider, ý thức không biết bị cáo K1 điều khiển xe cùng đồng phạm lấy trộm tài sản nên không đề cập đến trách nhiệm hình sự.

Đối với Nguyễn Thành Đ1 là chủ sở hữu hợp pháp của xe E, Được giao cho Nguyễn Thanh H3 quản lý, ý thức Được và H3 không biết Đinh Lê T điều khiển xe cùng đồng phạm lấy trộm tài sản nên không đề cập đến trách nhiệm hình sự của Đ1 và H3.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[12] Về vật chứng và tài sản thu giữ được của vụ án: Xét thấy, đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận:

  • + Trả lại Nguyễn Thành Đ1: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA số loại Exciter, màu đỏ đen, số máy 1S94036383, số khung 1S9409Y036382, biển số 66H1-221.70, đã qua sử dụng.
  • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền Việt Nam 100.000đồng.

+ Trả lại bị cáo Lê Văn K1: 01 mũ bảo hiểm màu xanh, ở giữa chính diện mũ bảo hiểm và hai bên mũ có logo màu xanh, có dòng chữ PIAGGIO màu trắng (đã qua sử dụng).

+ Trả lại bị cáo Trần Vũ L: 01 áo khoác màu trắng, có hai đường sọc màu xanh ở hai tay áo, phía sau áo có chữ RIGHT NOW R”, đã qua sử dụng.

+ Buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính, gồm: Trần Vũ L 600.000đồng, Nguyễn Ngọc T1 600.000đồng, Lê Văn K1 500.000đồng.

+ Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R, có chứa 01 tệp video có tên: 16.15.00-16.20.00[R][0@0][0].dav, có thời lượng 04 phút 59 giây, có dung lượng 04 phút 59 giây, có dung lượng 63MB. Sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, ghi Niêm phong số 483 ngày 22/5/2025; đóng dấu hình tròn, màu đỏ “PHÒNG K2 - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP”; các chữ ký ghi họ, tên: Đặng Huy P và Lâm Trọng N2.

[13] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

[14] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Trần Vũ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Trần Vũ L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 28/8/2025).
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Đinh Lê T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Đinh Lê T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn K1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
  • - Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự
  • + Trả lại cho anh Nguyễn Thành Đ1 01 (một) xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, màu đỏ đen, số máy 1S94036383, số khung RLCE1S9409Y036382, biển số 66H1-221.70, đã qua sử dụng.
  • + Trả lại bị cáo Lê Văn K1: 01 mũ bảo hiểm màu xanh, ở giữa chính diện mũ bảo hiểm và hai bên mũ có logo màu xanh, có dòng chữ PIAGGIO, màu trắng, đã qua sử dụng.
  • + Trả lại bị cáo Trần Vũ L: 01 áo khoát màu trắng, có hai đường sọc màu xanh ở hai tay áo, phía sau áo có chữ RIGHT NOW R, đã qua sử dụng.
  • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền Việt Nam 100.000đồng.
  • (Các vật chứng và tài sản tạm giữ hiện do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Đồng Tháp đang quản lý, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/10/2025).
  • + Buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính, gồm: Trần Vũ L 600.000đồng, Nguyễn Ngọc T1 600.000đồng, Lê Văn K1 500.000đồng.
  • + Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R, có chứa 01 tệp video có tên: 16.15.00-16.20.00[R][0@0][0].dav, có thời lượng 04 phút 59 giây, có dung lượng 04 phút 59 giây, có dung lượng 63MB. Sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, ghi Niêm phong số 483 ngày 22/5/2025; đóng dấu hình tròn, màu đỏ “PHÒNG K2 - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP”; các chữ ký ghi họ, tên: Đặng Huy P và Lâm Trọng N2.
  • - Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Vũ L, Đinh Lê T, Nguyễn Ngọc T1 và Lê Văn K1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyêt định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND Khu vực 12 – Đồng Tháp;
  • - Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - UBND phường An Bình, tỉnh Đồng Tháp;
  • - UBND xã Thường Phước, tỉnh Đồng Tháp;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Huỳnh Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger