Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HSST

Ngày 23/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị Huệ.

Bà Hoàng Thị Đào.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Kim Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lữ Trường Giang - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/TLST- HS, ngày 24 tháng 11 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QÐST-HS, ngày 09 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo.

Họ và tên: Lô Văn T, tên gọi khác: Không;

Sinh năm 1972 tại xã H, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: bản Nật T, xã H, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12 (Mù chữ); Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lô Văn V (đã chết) và bà Lô Thị V1 (đã chết); Vợ: Lữ Thị H, sinh năm 1975 (không đăng ký kết hôn); Vợ: Vy Thị H1, sinh năm 1984; Con: có 04 người con lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2014; (Trong đó có 01 con riêng của Vy Thị H1, sinh năm 2006); Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 1994 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản.

Năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Chiếm đoạt chất ma túy” và 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/5/2008.

Tiền án: 01 tiền án. Ngày 20/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Đã chấp hành xong hình phạt ngày 14/11/2023.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 06/08/2025 đến nay. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lô Văn T: Bà Nguyễn Thị T1 - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt.

Người làm chứng: Lê Văn T2, sinh năm 1987.

Địa chỉ: bản N, xã M, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 05/8/2025, tại khu vực bìa rừng thuộc bản Nật Trên, xã H, tỉnh Nghệ An, Công an xã H phát hiện, bắt quả tang Lô Văn T có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; Thu giữ một ba lô có 03 bộ phận được tháo rời (nghi là súng) gồm: 01 bộ phận nghi là thân súng, bằng kim loại sơn màu đen, kích thước 45cm; 01 bộ phận nghi là nòng súng, bằng kim loại sơn màu đen, dài 25cm; 01 phần nghi là bình hơi nén khí, bằng kim loại sơn màu đen, dài 37cm, có gắn đồng hồ đo áp suất và 01 hộp nhựa màu trắng có nắp màu xanh, bên trong hộp nhựa có 549 viên kim loại nghi là đạn chì. Tiến hành khám xét nhà của Lô Văn T tại bản Nật Trên, xã H, tỉnh Nghệ An thu giữ: 01 gói chất rắn màu trắng được bọc bao nilon màu hồng để trong mép giấy dán tường gần ổ điện ở cửa phòng ngủ 02 vợ chồng; 01 gói chất rắn màu trắng được bọc bao nilon màu hồng để trong túi đựng quần áo ở phía cuối gường ngủ con gái; 01 gói chất rắn màu trắng được bọc bao nilon màu trắng để trong mép giấy dán tường phòng ngủ con gái; 01 gói chất rắn màu vàng được bọc bao nilon màu vàng được đặt trong túi thuốc trong phòng ngủ con gái.

- Tại kết luận giám định số 327/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 12/08/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn T gửi đến giám định là ma túy; loại heroine (H), có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn T có khối lượng 0,2 gam (không phẩy hai gam)”.

- Tại Kết luận giám định số 73/KL-KTHS(Đ3-SĐ) ngày 27/08/2025 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:

“1. Các mẫu vật ký hiệu A1,A2,A3 thu giữ của Lô Văn T gửi đến giám định là linh kiện của súng hơi, khi lắp ráp các linh kiện này lại thành một khẩu súng hơi bắn được đạn cỡ 6,33mm- thuộc vũ khí quân dụng;

2. Mẫu vật ký hiệu A4 thu giữ của Lô Văn T gửi đến giám định là các viên đạn chì, hình nấm cỡ 6,33mm- thuộc vũ khí quân dụng.”

Bản Cáo trạng số 31/CT-VKS-P1 ngày 20/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lô Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều304 Bộ luật hình năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, bị cáo Lô Văn T khai nhận: Khoảng đầu tháng 02/2025, Lô Văn T đi chơi tại xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã H, tỉnh Nghệ An) gặp một người đàn ông đang cầm một khẩu súng hơi, thường được gọi là súng PCP. Lô Văn T hỏi mua súng và giao cho người đàn ông đó số tiền 3.000.000 đồng, người đó giao cho Lô Văn T một khẩu súng hơi, thường được gọi là súng PCP, bằng kim loại, màu đen, dài khoảng 93cm, nòng súng dài khoảng 60cm, sử dụng bình khí nén bằng kim loại dài khoảng 30cm. Trên thân súng có lắp ống ngắm bằng kim loại dài khoảng 30cm, có bộ phận trợ ngắm sử dụng tia Laser dài khoảng 10cm. Súng có tay cầm, ốp tay cầm bằng gỗ, có quai đeo bằng vải dù màu đen. Súng có thể tháo rời thành nhiều bộ phận để cất gọn. Người đó còn giao cho Lô Văn T một hộp bằng nhựa, có nắp màu xanh đựng nhiều viên đạn chì, Lô Văn T không kiểm đếm bên trong có bao nhiêu viên đạn. Sau khi mua được súng và đạn thì Lô Văn T tháo rời các bộ phận cho vào ba lô đưa về nhà rồi cất giấu trong phòng ngủ của vợ chồng để khi nào có nhu cầu đi săn thì đem ra sử dụng.

Ngày 01/08/2025, Lô Văn T đi bộ đến khu vực rừng thuộc xã Q, huyện Q (cũ) để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Lô Văn T gặp một người đàn ông lạ mặt, không quen biết, người này bịt khẩu trang, đội mũ, hỏi và mua của người đàn ông đó 400.000 đồng một cục nhỏ chất rắn màu trắng (Heroine), được bọc trong một bao nilon màu trắng. Sau đó, Lô Văn T đem về nhà chia số Heroine thành 05 phần, 01 phần Lô Văn T mang theo bên người để khi nào có nhu cầu thì lấy ra sử dụng, 04 phần còn lại Lô Văn T cất giấu nhiều nơi ở trong nhà để sử dụng dần.

Từ ngày 01/08/2025 đến ngày 05/08/2025, trong quá trình tìm kiếm quả Bo Bo trong rừng Lô Văn T đã sử dụng hết số Heroine mang theo người. Ngoài ra, Lô Văn T lấy các bộ phận trong ba lô, lắp ráp thành khẩu súng hơi để bắn 03 lần nhưng không săn được gì cả. Lô Văn T không nhớ rõ khu vực rừng đã đem súng ra để sử dụng. Sau khi bắn, Lô Văn T tháo rời khẩu súng thành từng bộ phận rồi cất vào ba lô như cũ. Đến khoảng 17 giờ ngày 05/8/2025, T đi ra khỏi rừng về đến bản Nật Trên, xã H, tỉnh Nghệ An thì bị Công an xã H phát hiện, bắt quả tang. Tiến hành khám xét nhà ở của Lô Văn T đã thu giữ, 04 gói ma tuý, cụ thể: 01 gói được gói bằng bao nilon màu hồng cất ở trong mép giấy dán tường gần cửa phòng ngủ của vợ chồng Lô Văn T; 01 gói được gói bằng bao nilon màu hồng cất ở trong túi đựng quần áo ở cuối giường phòng ngủ của Vi Thị N; 01 gói được gói bằng bao nilon màu trắng được cất trong mép giấy dán tường phòng ngủ của Vi Thị N;

01 gói được gói bằng bao nilon màu vàng dấu trong túi thuốc để ở phòng ngủ của Vi Thị N.

Bị cáo Lô Văn T nhất trí với Cáo trạng của VKSND tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Lô Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 06 năm đến 07 năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Vật chứng vụ án: + 01 khẩu súng hơi, cỡ nòng 6,35mm được lắp ráp từ 03 mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3;

+ 01 hộp nhựa màu trắng, có nắp màu xanh, bên trong có 549 viên đạn kim loại ( ký hiệu A4) thu giữ của Lô Văn T;

Đề nghị giao cho Kho K70 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo quy định của pháp luật.

+ Khám xét chỗ ở của Lô Văn T thu giữ được: 0,2g chất ma túy, loại Heroine Vật chứng đã được sử dụng hết trong quá trình giám định.

Về án phí: Bị cáo Lô Văn T là người dân tộc thiểu số và thuộc đối tượng hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Trình bày của người bào chữa cho bị cáo, đồng ý với quan điểm của vị đại diện VKS về tội danh, và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Lô Văn T từ 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Bị cáo Lô Văn T nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Lô Văn T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng. Bị cáo Lô Văn T khai nhận, khoảng 17 giờ 00 phút ngày 05/8/2025, tại bản Nật Trên, xã H, tỉnh Nghệ An, Lô Văn T có hành vi tàng trữ trong ba lô 03 bộ phận tháo rời là linh kiện của súng hơi bắn được đạn cỡ 6,33mm và 549 viên đạn chì. Khám xét nhà của Lô Văn T, phát hiện 0,2 gam ma túy (Heroine) của Lô Văn T cất dấu nhằm mục đích để sử dụng. Lời khai nhận của bị cáo Lô Văn T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng được thu giữ, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/8/2025; biên bản khám xét khẩn cấp nhà ở của Lô Văn T ngày 06/8/2025; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 06/8/2025; Tại kết luận giám định số 327/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 12/08/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn T gửi đến giám định là ma túy; loại heroine (H), có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn T có khối lượng 0,2 gam (không phẩy hai gam)”.

Tại Kết luận giám định số 73/KL-KTHS(Đ3-SĐ) ngày 27/08/2025 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:

“1. Các mẫu vật ký hiệu A1,A2,A3 thu giữ của Lô Văn T gửi đến giám định là linh kiện của súng hơi, khi lắp ráp các linh kiện này lại thành một khẩu súng hơi bắn được đạn cỡ 6,33mm- thuộc vũ khí quân dụng;

2. Mẫu vật ký hiệu A4 thu giữ của Lô Văn T gửi đến giám định là các viên đạn chì, hình nấm cỡ 6,33mm- thuộc vũ khí quân dụng.”

Do đó, có đủ căn cứ xác định các hành vi trên của Lô Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 và khoản 1 điều 304 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo Lô Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý và quản lý nhà nước về vũ khí quân dụng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Đặc biệt, bị cáo đã bị kết án chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo Lô Văn T: vì bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Lô Văn T.

[4] Đối với người đàn ông bán súng và người đàn ông bán ma túy cho Lô Văn T do không xác định được địa chỉ, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ....”và khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hìnhquy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ...”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đang bị tạm giam, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, nghiện chất ma tuý. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Vật chứng vụ án: + 01 khẩu súng hơi, cỡ nòng 6,35mm được lắp ráp từ 03 mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3;

+ 01 hộp nhựa màu trắng, có nắp màu xanh, bên trong có 549 viên đạn kim loại ( ký hiệu A4) thu giữ của Lô Văn T là vũ khí quân dụng cần giao cho Kho K70 (VKÐ -PHC-KT) thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo quy định của pháp luật.

[7]Về án phí: Bị cáo Lô Văn T là người dân tộc thiểu số và thuộc đối tượng hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (Tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt: Bị cáo Lô Văn T 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo Lô Văn T phải chấp hành là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 06 tháng 8 năm 2025

Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Giao cho Kho K70 (VKÐ -PHC-KT) thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo quy định của pháp luật.

+ 01 khẩu súng hơi, cỡ nòng 6,35mm được lắp ráp từ 03 mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3;

+ 01 hộp nhựa màu trắng, có nắp màu xanh, bên trong có 549 viên đạn kim loại ( ký hiệu A4) thu giữ của Lô Văn T;

Số vật chứng đang được bảo quản tại Kho 70 (VKÐ -PHC-KT) thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N. Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 21/10/2025 giữa Phòng an ninh điều tra Công an tỉnh N và Phòng Hậu cần kỹ thuật - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lô Văn T.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người làm chứng. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 23/12/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An,
  • - VKSND khu vực 10 - Nghệ An,
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Quán Vi Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HSST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 43/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Quang Lô Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger