Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 44/2026/DS-PT
Ngày: 16/01/2026
V/v: "Tranh chấp chia thừa kế"
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương

Các Thẩm phán: Bà Bùi Lan Hương

Bà Đào Thị Kiều Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Thùy – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 779/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 154/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 705/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 02/2026/TB-TA ngày 12 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Phạm Thị T, sinh năm 1951.

Địa chỉ: 3, khu phố Đ, phường H, thành phố B (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Kiều P, sinh năm 1974.

Địa chỉ: F, khu phố B, phường H, thành phố B (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai. (Theo văn bản ủy quyền ngày 30/10/2019)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1983 – Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ: 2, Võ Thị S, khu phố B, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Số nhà A, khu phố G, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn: Ông Trần Duy L, sinh năm 1976 – Luật sư Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ: Số D, N, khu phố F, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phạm Thị S1, sinh năm 1955. Địa chỉ: 1, khu phố Đ, phường H, thành phố B (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai.
  2. Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1958. Địa chỉ: 3, khu phố Đ, phường H, thành phố B (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai.
  3. Bà Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số nhà A, L, phường E, Quận A (nay là phường P), Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Bà Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số nhà A, Khu phố G, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.
  5. Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1968. Địa chỉ: 3, ấp Đ, phường H, thành phố B (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai.
  6. Ông Phạm Đình Thanh H3, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số nhà D, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.
  7. Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1960.
  8. Anh Phạm Đình Nguyên V1, sinh năm 1980.
  9. Anh Phạm Đình Quang D, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Số nhà A, khu phố G, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.

(Bà P, ông H1, Luật sư H, Luật sư L, bà S1, bà H2, bà N, bà O, ông D có mặt, các đương sự còn lại có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2020, ngày 24/4/2020, đơn sửa đổi bổ sung ngày 28/10/2022, ngày 01/11/2023, bản tự khai của nguyên đơn và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Kiều P trình bày:

Cha mẹ ruột của bà Phạm Thị T là cụ Phạm Văn C (Cuống) chết năm 2006 và mẹ là cụ Nguyễn Thị M (chết năm 2010). Cụ C và cụ Môn sinh được tất cả 07 người con gồm: (1) bà Phạm Thị T1, SN 1942 (đã chết từ 2001), bà T1 có 02 người con gồm bà Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1960 (con với chồng trước của bà T1) và bà Lê Thị Tuyết N, SN 1964 (là con với chồng sau của bà T1); (2) bà Phạm Thị N1, SN 1947 (đã chết năm 1968), bà N1 có 01 người con duy nhất là bà Nguyễn Thị Kiều O, SN 1968; (3) Phạm Thị T, SN 1951; (4) ông Phạm Văn T2, SN 1953 (đã chết năm 1974) có 01 người con duy nhất là ông Phạm Đình Thanh H3, SN 1974; (5) bà Phạm Thị S1, SN 1955; (6) bà Phạm Thị H2, SN 1958 và (7) ông Phạm Văn H1, SN 1959. Ngoài những người con kể trên thì cụ C, cụ M không còn người con ruột hay con nuôi, còn ngoài giá thú nào khác.

Cụ C, cụ M chết không để lại di chúc. Tài sản của hai cụ để lại là căn nhà cấp 4 đã được Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ngày 03/7/1985 xây trên thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 tọa lạc tại số A, Khóm G, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai, có diện tích đất là 1.725m² hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toàn bộ tài sản này hiện nay và do ông Phạm Văn H1 đang quản lý, sử dụng. Ngoài tài sản trên, cụ C và cụ M không để lại tài sản nào khác.

Năm 1999, nhà nước cho người sử dụng đất kê khai đăng ký đồng loạt theo quy định, do cụ C, cụ M già yếu và không biết chữ, nên ông H1 đề nghị các chị gái (bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị S1 và bà Phạm Thị H2) làm giấy ủy quyền để ông H1 đại diện đứng ra kê khai hồ sơ đất dùm cho cha mẹ. Bà T đại diện soạn thảo giấy ủy quyền viết tay để ông H1 đi kê khai dùm cha mẹ chứ không phải làm giấy cho đất, nhưng quá trình viết giấy thì các chị em cãi nhau nên không tiếp tục làm nữa, nên còn dở dang, tờ giấy viết tay này ông H1 giữ, chưa ai ký tên. Nhưng không hiểu sao ông H1 lại tự ý đi kê khai để đứng tên một mình đối với quyền sử dụng đất của cụ C, cụ M, trong khi các cụ còn sống. Khi xảy ra tranh chấp, bà T được biết ông H1 có tờ giấy uỷ quyền cho, tặng nhà đất lập theo mẫu (không rõ ngày tháng năm) lại có đầy đủ chữ ký của cụ C, cụ M và 01 Bản cam kết hội đồng gia tộc ghi ngày 05/5/1999 theo mẫu đánh máy có chữ ký của bà T, bà S1, bà H2, anh H3 (trong khi bà T không ký giấy tờ gì). Nay bà T xác định Giấy ủy quyền, cho, tặng nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở đô thị nói trên có chữ ký của cụ C, cụ M là không đúng vì các cụ đều không biết chữ, mặt khác giấy uỷ quyền cho, tặng nhà đất này cũng không được cơ quan có thẩm quyền nào công chứng hoặc chứng thực theo quy định nên không có giá trị pháp lý.

Việc ông H1 đã sử dụng các giấy tờ nói trên tự kê khai căn nhà và thửa đất nói trên đứng tên một mình ông H1 trong bộ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất (theo giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký nhà ở, đất ở số 3139/TTKT.ĐC ngày 07/5/1999) là không đúng quy định. Hiện nay toàn bộ nhà, đất nói trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất.

Khi cụ C, cụ M còn sống, các cụ có đồng ý cho bà T xây nhà trên một phần thửa đất. Đến khoảng cuối năm 2002, bà T tiến hành xây nhà trên phần đất cha mẹ cho và đang trong quá trình làm nền móng thì ông H1 ngăn cản không cho xây nữa, nên bà T ngưng không thiết lập tục xây dựng. Khoảng năm 2008, ông H1 có dựng nhà tạm bằng cây, vách tôn trên nền móng nhà mà bà T đã làm. Qua đo đạc thực tế thì phần diện tích đất bà T đã làm móng nhà nói trên có diện tích là 360,5m² (Theo Trích lục và biên bản họa đồ hiện trạng khu đất số 415 ngày 08/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B).

Vì vậy, bà T khởi kiện ông Phạm Văn H1 yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:

  • Tuyên vô hiệu đối với Giấy ủy quyền, cho, tặng nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở đô thị (không ghi ngày, tháng, năm) thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai giữa bên uỷ quyền cho, tặng là cụ Phạm Văn C, cụ Nguyễn Thị M với bên nhận là ông Phạm Văn H1;
  • Tuyên tài sản là căn nhà cấp 4 đã được Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ngày 03/7/1985 (nay là căn nhà lợp ngói, diện tích khoảng 120m²) gắn liền với diện tích đất là 1.725m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai là di sản thừa kế của cụ Phạm Văn C và cụ Nguyễn Thị M để lại và yêu cầu Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ C, cụ M là căn nhà và diện tích đất nói trên cho 07 kỷ phần thừa kế theo pháp luật quy định.

Nguyện vọng của bà T xin được nhận nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất 360,5m² mà bà T đã làm nền móng nhà trên đất (Vị trí diện tích đất này theo Trích lục và biên bản họa đồ hiện trạng khu đất số 415 ngày 08/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B). Trường hợp kỷ phần của bà T nhiều hơn thì bà T sẽ có trách nhiệm thanh toán phần chênh lệch cho các đồng thừa kế còn lại theo pháp luật.

Về kết quả đo đạc và giá trị tài sản tranh chấp, nguyên đơn đồng ý theo kết quả đo đạc và thẩm định giá (Chứng thư thẩm định giá số 115/2023/TĐG-BC ngày 22/5/2023 của Công ty Cổ phần T5), nguyên đơn không yêu cầu thẩm định giá lại.

Về chi phí tố tụng: Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật quy định.

- Bị đơn ông Phạm Văn H1 trình bày:

Cha mẹ ruột của ông là cụ Phạm Văn C (Cuống) chết năm 2006, mẹ là cụ Nguyễn Thị M (chết năm 2010). Cụ C và cụ Môn sinh được tất cả 07 người con là đúng theo các thông tin bà T đã trình bày phần trên. Cha mẹ của ông không có người con nuôi, còn ngoài giá thú nào khác. Khi chết cụ C, cụ M không để lại di chúc.

Tài sản cha mẹ của ông để lại là căn nhà và đất tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai, hiện do vợ chồng ông và các con ông đang quản lý sử dụng. Ngoài tài sản trên cụ C, cụ M không còn tài sản nào khác.

Tuy nhiên, vào năm 1999 cha mẹ đã lập văn bản ủy quyền cho ông căn nhà và thửa đất nêu trên (theo Giấy ủy quyền nhà đất lập ngày 26/4/1999). Nội dung của tờ giấy ủy quyền này là cha và mẹ của ông cho con trai (ông Phạm Văn H1) căn nhà ở diện tích 120m² nằm trên diện tích đất vườn 1.600m² và cho người cháu Phạm Đình Thanh H3 (là con trai của Phạm Văn T2 đã chết) diện tích đất ruộng 795m². Sở dĩ phải làm 02 tờ giấy ủy quyền có cùng nội dung giống nhau là vì cha mẹ của ông cho 02 người (con trai và cháu nội) nên mỗi người 01 tờ (01 tờ ghi tên Phạm Văn C và 01 tờ ghi tên Phạm Văn C1 là để phù hợp với hồ sơ nhà đất của T3 xây dựng cấp cho cha mẹ của ông). Tại thời điểm lập 02 giấy ủy quyền ngày 26/4/1999 thì cha mẹ của ông còn mạnh khỏe và minh mẫn và cùng ký tên vào trong giấy ủy quyền. Cùng có bà T1, bà T, bà S1, bà H2 ký là thể hiện sự đồng ý của các chị ruột về việc cho nhà đất của cha mẹ. Đến khi ông đi kê khai đăng ký nhà, đất vào năm 1999 (kê khai đồng loạt), ông có xuất trình tờ giấy ủy quyền nhà đất viết tay ngày 26/4/1999 đã lập nói trên nhưng cán bộ tiếp nhận hồ sơ chỉ nhận bộ hồ sơ theo mẫu và giao cho các mẫu để kê khai lại chứ họ không thu nhận tờ giấy ủy quyền viết tay này. Do đó, ông mới làm Giấy ủy quyền, cho, tặng nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất tại đô thị (theo mẫu), giấy ủy quyền (theo mẫu) này mặc dù không ghi ngày tháng nhưng ông H1 xác định là được lập vào ngày 05/5/1999. Chữ ký của cụ C ký trong giấy ủy quyền, cho, tặng này là do ông H1 cầm tay (cụ C) ký vào (lý do chữ ký của cụ C ký xấu), còn chữ ký của mẹ ông (cụ M) thì do cụ M trực tiếp tự ký tên.

Ngoài giấy ủy quyền, cho, tặng thì ông còn phải lập giấy “Bản cam kết hội đồng gia tộc” theo mẫu ghi vào ngày 05/5/1999, cùng có bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị S1 và cháu Phạm Đình Thanh H3 tự ký tên trong Bản cam kết gia tộc này.

Căn cứ vào các giấy tờ nói trên, ông H1 đã đứng tên đăng ký kê khai để xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất (theo biên nhận hồ sơ đăng ký nhà ở, đất ở số 3139/TTKT-ĐC ngày 02/5/1999 của Trung tâm Kỹ thuật địa chính tỉnh Đ). Hiện nay, trên thửa đất có các tài sản, công trình sau:

  • 01 căn nhà cấp 04 lợp ngói, căn nhà này là do cha mẹ của ông để lại. Trong quá trình sinh sống, đến năm 1985 ông có sửa chữa tu bổ và xây sửa thêm căn nhà và các công trình như hiện trạng hiện nay;
  • 01 căn nhà từ đường, diện tích khoảng 60m², do 04 chị em (ông H1, bà T, bà S1, bà H2) cùng bỏ tiền ra xây dựng để làm nơi thờ cúng hài cốt của cha mẹ.
  • 02 ngôi mộ (01 của bà ngoại và 01 của ông Phạm Văn T2) trên đất.
  • Có 01 nền móng nhà xây bằng gạch, do bà T xây dựng vào khoảng từ cuối năm 2002 đầu năm 2003. Khi này thì cha mẹ ông đều còn sống nhưng ông không đồng ý cho xây nhà, nên bà T ngưng không xây thêm nữa và nền móng trên vẫn giữ nguyên hiện trạng cho đến nay. Đến khoảng năm 2007 – 2008, ông H1 có dựng căn nhà tạm bằng cây, vách tôn, mái tôn trên nền móng nêu trên, một số vật liệu làm nhà tạm ông qua nhà bà T lấy đem về để làm.
  • 01 nhà tắm diện tích khoảng 2m², xây tường lợp tôn do ông xây để sử dụng trong gia đình.
  • Ngoài ra trên khu đất trước sân nhà, ông có dựng cọc sắt, gác xà gồ, trên lợp tôn làm mái vòm, bên dưới có cán nền sân xi măng diện tích khoảng 5m x 13m để làm nơi sinh hoạt chung mỗi khi cúng giỗ tập hợp được nhiều người.

Toàn bộ các công trình, tài sản gắn liền thửa đất trên thì hiện nay do ông H1 đang trực tiếp quản lý sử dụng.

Quá trình quản lý, sử dụng cho đến nay thì thừa đất trên vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn căn nhà của cha mẹ để lại vẫn do cha mẹ đứng tên quyền sở hữu do Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp ngày 03/7/1985.

Nay ông H1 xác định toàn bộ tài sản mà bà T yêu cầu chia thừa kế nêu trên thì cha mẹ đã cho ông khi còn sống. Do đó, ông H1 không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà T. Đối với nền móng nhà của bà T làm trên thửa đất là do bà T tự làm, không được sự đồng ý của ông nên đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Về kết quả đo đạc và giá trị tài sản tranh chấp, bị đơn đồng ý theo kết quả đo đạc và thẩm định giá (Chứng thư thẩm định giá số 115/2023/TĐG-BC ngày 22/5/2023 của Công ty Cổ phần T5), bị đơn không yêu cầu thẩm định giá lại.

QUYẾT ĐỊNH CỦA BẢN ÁN SƠ THẨM:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 154/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai đã căn cứ:

  • Áp dụng Điều 131, 136, 461, 463, 585, 586 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 73 Luật đất đai năm 1993;
  • Áp dụng Điều 147; khoản 2 Điều 157 và khoản 2 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 7 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản và hợp đồng ủy quyền cho, tặng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất”.

  1. Tuyên Giấy ủy quyền, cho, tặng nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở đô thị (không ghi ngày, tháng, năm) thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai giữa bên uỷ quyền cho, tặng là cụ Phạm Văn C, cụ Nguyễn Thị M với bên nhận là ông Phạm Văn H1 vô hiệu.
  2. Công nhận 01 căn nhà cấp 4, có diện tích 120m² đã được Ty Xây dựng tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ngày 03/7/1985 và diện tích quyền sử dụng đất là 1.725m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai là di sản thừa kế của cụ Phạm Văn C và cụ Nguyễn Thị M để lại. Giá trị toàn bộ tài sản nhà, đất nói trên tổng cộng là 12.099.990.000đồng (Mười hai tỷ, không trăm chín mươi chín triệu, chín trăm chín mươi ngàn đồng).
  3. Trích lại 01 kỷ phần thừa kế tài sản là công sức giữ gìn, bảo quản di sản cho ông Phạm Văn H1 tương đương số tiền 1.728.570.000đ (Một tỷ, bảy trăm hai mươi tám triệu, năm trăm bảy mươi nghìn đồng).
  4. Giá trị tài sản thừa kế còn lại để chia theo pháp luật là: (12.099.990.000đ - 1.728.570.000đ) = 10.371.420.000đ, chia cho 07 kỷ phần thừa kế, gồm: Bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị S1, bà Phạm Thị H2, ông Phạm Văn H1, bà Phạm Thị N1 (đã chết, thừa kế thế vị là bà Nguyễn Thị Kiều O), bà Phạm Thị T1 (đã chết, thừa kế thế vị là bà Nguyễn Ngọc K và bà Lê Thị Tuyết N), ông Phạm Văn T2 (đã chết, thừa kế thế vị là ông Phạm Đình Thanh H3); Giá trị tài sản mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng là 1.481.631.000đ (Một tỷ, bốn trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
  5. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị S1, bà Phạm Thị H2 và ông Phạm Đình Thanh H3 cho lại ông Phạm Văn H1 kỷ phần thừa kế của mình được hưởng, tổng cộng 03 kỷ phần là: 4.444.893.000đ (Bốn tỷ, bốn trăm bốn mươi bốn triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn đồng).
  6. Về chia di sản như sau:

    Giao cho ông Phạm Văn H1 được sở hữu căn nhà cấp 04 có diện tích 120m² (trong tổng diện tích xây dựng 203m² bao gồm cả phần xây dựng thêm của ông H1) và được quyền sử dụng toàn bộ diện tích quyền sử dụng đất 1.725m² (theo bản đồ địa chính) thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai của cụ Phạm Văn C, cụ Nguyễn Thị M để lại.

    Giao cho ông Phạm Văn H1 được sở hữu 01 nền móng nhà xây bằng gạch có diện tích xây dựng (7,6m x 11,8m) + hàng rào sau nền đất (do bà Phạm Thị T đã làm trên thửa đất nói trên từ năm 2002, trị giá 19.696.500đ).

    Tổng giá trị tài sản ông Phạm Văn H1 được chia là: (1.728.570.000đ + 1.481.631.000đ + 19.696.500đ + 4.444.893.000đ) = 7.674.790.500đ (Bảy tỷ, sáu trăm bảy mươi tư triệu, bảy trăm chín mươi nghìn, năm trăm đồng).

  7. Về nghĩa vụ hoàn trả giá trị tài sản chia thừa kế:

    7.1. Ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho bà Phạm Thị T giá trị tài sản chia thừa kế là: 1.501.327.500đ (Một tỷ, năm trăm lẻ một triệu, ba trăm hai mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).

    7.2. Ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho thừa kế thế vị là bà Nguyễn Thị Kiều O (con của bà Phạm Thị N1, đã chết) giá trị tài sản chia thừa kế là: 1.481.631.000đ (Một tỷ, bốn trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

    7.3. Ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho thừa kế thế vị là bà Nguyễn Ngọc K và bà Lê Thị Tuyết N (con của bà Phạm Thị T1, đã chết) giá trị tài sản chia thừa kế là: 1.481.631.000đ (Một tỷ, bốn trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quy định về thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28/8/2025, bị đơn ông Phạm Văn H1 kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 154/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai đề nghị cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn H1 làm trong thời hạn luật định, đương sự được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Về nội dung kháng cáo: Ông H1 kháng cáo cho rằng, thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57, có diện tích đất là 1.725m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do cha, mẹ ông được cho. Chứng cứ chứng minh ông cung cấp văn bản ủy quyền cho ông căn nhà và thửa đất nêu trên (theo Giấy ủy quyền nhà đất lập ngày 26/4/1999). Ngoài giấy ủy quyền, cho, tặng thì ông còn phải lập giấy “Bản cam kết hội đồng gia tộc” theo mẫu ghi vào ngày 05/5/1999, cùng có bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị S1 và cháu Phạm Đình Thanh H3 tự ký tên trong Bản cam kết gia tộc này.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguồn gốc căn nhà cấp 4 tại địa chỉ số A, khu phố G, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai, được Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ngày 03/7/1985 đứng tên cụ Phạm Văn C và cụ Nguyễn Thị M, diện tích xây dựng 120m². Căn nhà xây trên thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57, có diện tích đất là 1.725m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn cung cấp và do Tòa án thu thập, thể hiện. Vào ngày 05/5/1999, ông H1 đứng tên đăng ký nhà ở, đất ở và làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (đăng ký kê khai đồng loạt) đối với căn nhà và diện tích đất tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai. Theo nội dung kê khai về nguồn gốc đất trong hồ sơ đăng ký, ông H1 khai đất của bố mẹ mua lại năm 1960, sử dụng đến năm 1999 ủy quyền lại cho con; kèm theo hồ sơ kê khai đăng ký có Bản cam kết hội đồng gia tộc đề ngày 05/5/1999 và Giấy ủy quyền cho, tặng nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở đô thị (theo mẫu) không đề ngày, tháng, năm (theo ông H1 khai thì Giấy ủy quyền cho, tặng này được lập ngày 05/5/1999), có nội dung cụ C và cụ M ủy quyền cho, tặng ông H1 nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất đối với căn nhà gắn liền với diện tích đất 1.725m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai; phía dưới có chữ ký của bên cho (Phạm Văn C, Nguyễn Thị M), bên nhận có chữ ký tên ông Phạm Văn H1, không có Ủy ban nhân dân cấp thẩm quyền xác nhận.

Tại thời điểm lập Giấy ủy quyền cho, tặng nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất thì thửa đất của cụ C, cụ M nói trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên chưa đảm bảo điều kiện pháp luật quy định. Ngoài ra, việc ủy quyền cho, tặng nhà đất nêu trên cũng không được Ủy ban nhân dân cấp thẩm quyền xác nhận, nên không đúng theo quy định của pháp luật. Việc ông H1 nộp hồ sơ kê khai đăng ký thửa đất đứng tên một mình ông để xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất (theo biên nhận hồ sơ đăng ký nhà ở, đất ở số 3139/TTKT-ĐC ngày 02/5/1999 của Trung tâm Kỹ thuật địa chính tỉnh Đ) là không đúng quy định.

Căn cứ Điều 131, 136 Bộ luật dân sự năm 1995, xét thấy Giấy ủy quyền cho, tặng nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở đô thị ngày 05/5/1999 giữa cụ C, cụ M với ông H1 việc việc cho, tặng căn nhà và diện tích đất 1.725m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai là vô hiệu, nên không có giá trị pháp lý. Nay ông H1 cho rằng khi cha, mẹ còn sống đã tặng cho ông, nên là tài sản riêng của ông là không có căn cứ.

Ngoài ra, ông H1 còn cho rằng việc cho, tặng nhà đất đã được các chị của ông là bà T1, bà T, bà S1, bà H2 đồng ý và cùng ký vào bản cam kết hội đồng gia tộc ngày 05/5/1999, nên ông không đồng ý là di sản thừa kế. Xét thấy, bản cam kết hội đồng gia tộc lập ngày 05/5/1999, thời điểm này cụ C và cụ M đều còn sống, nhưng trong tờ cam kết gia tộc này lại có nội dung “Trước khi chết. Cha mẹ chúng tôi không để lại di chúc. Theo quy định của pháp luật, chúng tôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất được thừa hưởng di sản nêu trên của cha mẹ chúng tôi (01 ngôi nhà 120m² trên mảnh đất vườn 1.725m²)”. Như vậy, nội dung bản cam kết gia tộc này là không đúng với thực tế. Về chữ ký của những người ký trong bản cam kết gia tộc này ngoài bà S1, bà H2 xác nhận là bà có ký vào bản này thì lời khai của bà T và anh H3 trong hồ sơ xác định không ký vào bản cam kết hội đồng gia tộc, ngoài ra thời điểm này bà T1 còn sống nhưng cũng không có chữ ký của bà T1. Do vậy, ông H1 cho rằng việc cụ C, cụ M cho, tặng căn nhà và diện tích đất nêu trên đã được tất cả các chị em trong gia đình cùng đồng ý tặng cho ông H1 là không có căn cứ.

Đối với 02 tờ giấy ủy quyền viết tay ngày 26/4/1999 có nội dung giống nhau (01 tờ ghi tên Phạm Văn C và 01 tờ ghi tên Phạm Văn C1), nội dung dụng cụ C (C1) và cụ M là chủ sở hữu căn nhà ở diện tích 120m² trên diện tích đất vườn 1.600m² (không rõ thửa đất nào) ủy quyền lại cho con trai phần nhà đất nói trên, để bổ sung vào hồ sơ xin cấp quyền sử dụng đất (không nêu rõ là cho, tặng). Như vậy, nội dung ủy quyền nêu trên của cụ C, cụ M mục đích là để cho ông H1 đứng ra đại diện đi kê khai, đăng ký nhà đất cho cụ C, cụ M. Cả hai giấy ủy quyền này cũng không có Ủy ban nhân dân cấp thẩm quyền xác nhận, nên cũng không có giá trị pháp lý để chứng minh việc cho, tặng tài sản nhà đất theo quy định.

Theo văn bản số 476/VPĐK.BH –ĐKCG ngày 21/3/2015 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B cung cấp cho Toà án được biết, lý do ông Phạm Văn H1 kê khai đăng ký từ năm 1999 cho đến trước thời điểm tranh chấp (năm 2019) nhưng không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do nội dung xét duyệt ngày 09/9/2004 của Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận phường Thống Nhất tại Biên bản số 254/BBXD chưa thống nhất với nội dung kê khai của ông Phạm Văn H1, chưa xét duyệt về thời điểm xây dựng nhà ở. Cho đến nay hồ sơ kê khai của ông Phạm Văn H1 đối với thửa đất nói trên trên cũng chưa được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai tuyên vô hiệu đối với Giấy ủy quyền, cho, tặng nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở đô thị (không ghi ngày, tháng, năm) thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai giữa bên uỷ quyền cho, tặng là cụ Phạm Văn C, cụ Nguyễn Thị M với bên nhận là ông Phạm Văn H1 là có căn cứ.

Xét thấy, hiện nay ông H1 là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản nhà, đất do cụ C, cụ M để lại và trên đất hiện nay cũng có công trình, tài sản mà ông H1 đầu tư làm thêm như đã trình bày phần trên. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai giao cho ông H1 được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất trong đó có căn nhà cấp 4 diện tích 120m² và giao toàn bộ diện tích quyền sử dụng đất 1.725m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai của cụ C, cụ M để lại, đồng thời giao ông H1 được sở hữu 01 nền móng nhà xây bằng gạch trên đất do bà T xây dựng từ 2002 + hàng rào phía sau nền đất, được thẩm định giá là 19.696.500đ, (theo bản vẽ hiện trạng nhà ngày 03/4/2021 và Trích lục và biên bản họa đồ hiện trạng khu đất số 415 ngày 08/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B và Chứng thư Thẩm định giá số 115/2023/TĐG-CT ngày 22/5/2023 của Công ty Cổ phần T5). Ông H1 phải có nghĩa vụ phải thanh toán lại giá trị tài sản cho bà T và tương ứng với mỗi kỷ phần thừa kế được chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế còn lại.

Như vậy, tổng giá trị di sản thừa kế của cụ C và cụ M để lại xác định để chia thừa kế theo pháp luật là: 12.099.990.000đ. Cụ C, cụ M trước khi chết không để lại nghĩa vụ về tài sản, nên chia cho 07 kỷ phần thừa kế theo pháp luật. Mỗi kỷ phần thừa kế tương ứng với trị giá là 1.728.570.000đ. Trích lại 01 kỷ phần thừa kế tài sản cho ông H1 là công sức giữ gìn, bảo quản di sản, tương ứng là 1.728.570.000đ. Nên giá trị tài sản thừa kế còn lại để chia theo pháp luật cho 07 kỷ phần là (12.099.990.000đ - 1.728.570.000đ) = 10.371.420.000đ, chia cho 07 kỷ phần thừa kế, gồm: Bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị S1, bà Phạm Thị H2, ông Phạm Văn H1, bà Phạm Thị N1 (đã chết, thừa kế thế vị là bà Nguyễn Thị Kiều O), bà Phạm Thị T1 (đã chết, thừa kế thế vị là bà Nguyễn Ngọc K và bà Lê Thị Tuyết N), ông Phạm Văn T2 (đã chết, thừa kế thế vị là ông Phạm Đình Thanh H3), giá trị mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng (làm tròn) là 1.481.631.000đ.

Bà S1, bà H2 và ông H3 tự nguyện cho lại kỷ phần thừa kế của bà S1, bà H2, ông H3 được hưởng cho ông H1, tương ứng giá trị 03 kỷ phần là (1.481.631.000đ x 03) = 4.444.893.000đ. Xét thấy, sự tự nguyện trên của bà S1, bà H2, ông H3 là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận.

Như vậy, tổng giá trị tài sản ông Phạm Văn H1 được chia là: (1.728.570.000đ + 1.481.631.000đ + 19.696.500đ + 4.444.893.000đ) = 7.674.790.500đ.

- Ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho thừa kế thế vị là bà Nguyễn Thị Kiều O (con của bà Phạm Thị N1, đã chết) giá trị tài sản chia thừa kế là: 1.481.631.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm bà O từ chối nhận kỷ phần thừa kế và đồng ý cho lại bà T và bà K kỷ phần thừa kế của bà, người đại diện theo ủy quyền của bà T đồng ý nhận. Xét sự tự nguyện này là đúng quy định pháp luật nên ghi nhận.

- Ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho bà Phạm Thị T giá trị tài sản chia thừa kế là: (1.481.631.000đ + 19.696.500đ) = 1.501.327.500đ và phần của bà O là 1.481.631.000đ. Tổng cộng là 2.982.958.500đ.

- Ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho thừa kế thế vị là bà Nguyễn Ngọc K và bà Lê Thị Tuyết N (con của bà Phạm Thị T1, đã chết) giá trị tài sản chia thừa kế là: 1.481.631.000đ.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn H1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 154/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai theo sự thỏa thuận.

  • Áp dụng Điều 131, 136, 461, 463, 585, 586 Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 73 Luật Đất đai năm 1993;
  • Áp dụng Điều 147; khoản 2 Điều 157 và khoản 2 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 7 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản và hợp đồng ủy quyền cho, tặng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất”.

  1. Tuyên Giấy ủy quyền, cho, tặng nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở đô thị (không ghi ngày, tháng, năm) thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai giữa bên uỷ quyền cho, tặng là cụ Phạm Văn C, cụ Nguyễn Thị M với bên nhận là ông Phạm Văn H1 vô hiệu.
  2. Công nhận 01 căn nhà cấp 4, có diện tích 120m² đã được Ty Xây dựng tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ngày 03/7/1985 và diện tích quyền sử dụng đất là 1.725m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai là di sản thừa kế của cụ Phạm Văn C và cụ Nguyễn Thị M để lại. Giá trị toàn bộ tài sản nhà, đất nói trên tổng cộng là 12.099.990.000đồng (Mười hai tỷ, không trăm chín mươi chín triệu, chín trăm chín mươi ngàn đồng).
  3. Trích lại 01 kỷ phần thừa kế tài sản là công sức giữ gìn, bảo quản di sản cho ông Phạm Văn H1 tương đương số tiền 1.728.570.000đ (Một tỷ, bảy trăm hai mươi tám triệu, năm trăm bảy mươi nghìn đồng).
  4. Giá trị tài sản thừa kế còn lại để chia theo pháp luật là: (12.099.990.000đ - 1.728.570.000đ) = 10.371.420.000đ, chia cho 07 kỷ phần thừa kế, gồm: Bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị S1, bà Phạm Thị H2, ông Phạm Văn H1, bà Phạm Thị N1 (đã chết, thừa kế thế vị là bà Nguyễn Thị Kiều O), bà Phạm Thị T1 (đã chết, thừa kế thế vị là bà Nguyễn Ngọc K và bà Lê Thị Tuyết N), ông Phạm Văn T2 (đã chết, thừa kế thế vị là ông Phạm Đình Thanh H3); Giá trị tài sản mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng là 1.481.631.000đ (Một tỷ, bốn trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
  5. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị S1, bà Phạm Thị H2 và ông Phạm Đình Thanh H3 cho lại ông Phạm Văn H1 kỷ phần thừa kế của mình được hưởng, tổng cộng 03 kỷ phần là: 4.444.893.000đ (Bốn tỷ, bốn trăm bốn mươi bốn triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn đồng).
    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kiều O cho lại bà Phạm Thị T kỷ phần thừa kế của mình được hưởng là 01 kỷ phần là: 1.481.631.000đ (Một tỷ, bốn trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
  6. Về chia di sản như sau:

    Giao cho ông Phạm Văn H1 được sở hữu căn nhà cấp 04 có diện tích 120m² (trong tổng diện tích xây dựng 203m² bao gồm cả phần xây dựng thêm của ông H1) và được quyền sử dụng toàn bộ diện tích quyền sử dụng đất 1.725m² (theo bản đồ địa chính) thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 57 phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai của cụ Phạm Văn C, cụ Nguyễn Thị M để lại.

    Giao cho ông Phạm Văn H1 được sở hữu 01 nền móng nhà xây bằng gạch có diện tích xây dựng (7,6m x 11,8m) + hàng rào sau nền đất (do bà Phạm Thị T đã làm trên thửa đất nói trên từ năm 2002, trị giá 19.696.500đ).

    Tổng giá trị tài sản ông Phạm Văn H1 được chia là: (1.728.570.000đ + 1.481.631.000đ + 19.696.500đ + 4.444.893.000đ) = 7.674.790.500đ (Bảy tỷ, sáu trăm bảy mươi tư triệu, bảy trăm chín mươi nghìn, năm trăm đồng).

    (Vị trí nhà, đất theo bản vẽ hiện trạng nhà ngày 03/4/2021 và Trích lục và biên bản họa đồ hiện trạng khu đất số 415 ngày 08/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B và Chứng thư Thẩm định giá số 115/2023/TĐG-CT ngày 22/5/2023 của Công ty Cổ phần T5).

    Ông Phạm Văn H1 được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký lại quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  7. Về nghĩa vụ hoàn trả giá trị tài sản chia thừa kế:

    7.1. Ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho bà Phạm Thị T giá trị tài sản chia thừa kế là: 2.982.958.500đ (Hai tỷ, chín trăm tám mươi hai triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn, năm trăm đồng).

    7.2. Ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho thừa kế thế vị là bà Nguyễn Ngọc K và bà Lê Thị Tuyết N (con của bà Phạm Thị T1, đã chết) giá trị tài sản chia thừa kế là: 1.481.631.000đ (Một tỷ, bốn trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

  8. Về chi phí tố tụng:

    - Ông Phạm Văn H1 phải trả cho bà Phạm Thị T số tiền là: 66.567.500đ (Sáu mươi sáu triệu, năm trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).

    - Bà Nguyễn Ngọc K và bà Lê Thị Tuyết N phải trả cho bà Phạm Thị T số tiền là 13.313.500đ (Mười ba triệu, ba trăm mười ba nghìn, năm trăm đồng).

  9. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho bà Phạm Thị T, ông Phạm Văn H1, bà Nguyễn Ngọc K và bà Lê Thị Tuyết N.
  10. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND khu vực 1 – Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 1 – Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phan Thị Thu Hương

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 44/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger