Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày 29-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Sen.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Đình Hoàng;
  2. Ông Nguyễn Công Phúc.

Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Hồng Đức - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường Công an xã X, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa lưu động xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian, địa điểm mở phiên toà hình sự sơ thẩm số 82/TB-TA ngày 23/12/2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T (tên gọi khác: T mỡ), sinh ngày 26/5/1983 tại xã X, thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: thôn H, xã X, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1963; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 05/3/2003, bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 15/3/2012, bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 14/8/2014, bị Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 24/11/2016, bị Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 29/5/2025 bị Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” với số tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/01/2025, chuyển tạm giam từ ngày 11/01/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Kông Duy K, sinh năm 1992; địa chỉ: khối phố A, phường L, tỉnh Đồng Nai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Duy T1, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ E, thôn C, xã Q, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Thế P, sinh năm 1984; địa chỉ: tổ E, thôn B, xã X, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Hàn Đắc Duy B, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ G, thôn H, xã X, thành phố Đà Nẵng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Bá V, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn H, xã X, thành phố Đà Nẵng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn B, xã X, thành phố Đà Nẵng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn H, xã X, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2024, Nguyễn Anh T vào mạng facebook tìm người bán pháo để mua về sử dụng thì tài khoản có tên “Tổng Kho Sỉ Lẻ Trung H1” gửi số điện thoại 0332594532 để T liên lạc. Người này giới thiệu tên H2, trú tại tỉnh Tây Ninh có bán các loại pháo nên T đặt mua pháo của H2 với số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Sau khi trao đổi việc mua bán pháo với đối tượng tên H2, Nguyễn Anh T hứa hẹn với Nguyễn Duy T1, Nguyễn Thế P và Nguyễn Hàn Đắc Huy B1 sẽ biếu mỗi người 01 hộp pháo để chơi tết. Nghe T nói vậy, T1, P, B1 có nhờ T mua giúp từ 01 đến 02 hộp pháo để đốt vào dịp tết. Đến ngày 31/12/2024, T đón xe khách giường nằm (không rõ tên nhà xe) đi từ thị trấn H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam (nay là xã X, thành phố Đà Nẵng) đến thành phố Hồ Chí Minh để mua pháo như thoả thuận với H2. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 01/01/2025, H2 gọi điện cho T nói đứng đợi tại bến xe B, tỉnh Đồng Nai rồi điều khiển xe ô tô chở theo 03 thùng pháo đến gặp T. Sau khi kiểm tra pháo trong 03 thùng này, T đưa cho H2 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng rồi liên hệ nhà xe NĂM A để mang số pháo trên về tỉnh Quảng Nam. Đến khoảng 06 giờ 45 phút ngày 02/01/2025 khi T vừa xuống xe khách mang theo 03 thùng có chứa pháo đi vào nhà bà Võ Thị N1 (bà ngoại T) thì bị công an phát hiện, bắt giữ.

Qua khám xét khẩn cấp nơi ở, Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ chất rắn dạng bột, màu nâu trong phòng ngủ của T là ma tuý, do một người thanh niên lạ mặt tại Đà Nẵng cho T để sử dụng nhưng T chưa sử dụng thì bị phát hiện.

Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định: 39 khối hộp và các vật hình cầu vỏ bằng nhựa đựng trong 07 bịch ni lông gửi giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng là 85,35 kg (tám mươi lăm phẩy ba mươi lăm kilôgam).

Kết luận giám định số 36/KL-KTHS ngày 09/01/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định: chất rắn dạng bột màu nâu gửi giám định là ma tuý loại MDMA, Methamphetamine và D, khối lượng mẫu là 3,58 gam; hàm lượng MDMA trong mẫu là 23,0%, khối lượng MDMA trong 3,58 gam mẫu là 0.8234 gam Methamphetamine và D đều ở dạng vết nên không xác định được hàm lượng cũng như khối lượng.

Cáo trạng số 65/CT-VKSĐN ngày 12 tháng 9 năm 2025 đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191, điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà và văn bản số 378/VKS-P3 ngày 01/12/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng về kết quả điều tra bổ sung theo Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 07/2025/HSST-QĐ ngày 07/10/2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm đã truy tố và trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 02 năm – 2 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" và 03 năm – 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 02/01/2025; đề nghị không xử phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không trình bày lời bào chữa và không tham gia tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức hành vi của bản thân vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có điều kiện hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Lúc 06 giờ 45 phút ngày 02/01/2025, tại nhà bà Võ Thị N1 thuộc thôn H, xã X, thành phố Đà Nẵng, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Q phối hợp với Công an thị trấn H, huyện Q bắt quả tang Nguyễn Anh T có hành vi vận chuyển, tàng trữ 85,35 kilôgam pháo hoa nổ để sử dụng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Qua khám xét, Cơ quan điều tra còn phát hiện Nguyễn Anh T có hành vi tàng trữ 3,58 gam ma tuý loại MDMA, Methamphetamine và Diazepam với mục đích sử dụng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ, vận chuyển pháo nổ, tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Việc sử dụng pháo nổ có thể gây ra nhiều nguy hiểm, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lí, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hoá, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ. Ma túy là chất gây nghiện có hại cho sức khỏe con người, sử dụng ma tuý là một trong những tệ nạn nguy hiểm nhất trong xã hội. Khi sử dụng chất ma túy sẽ làm cho con người có nhận thức lệch lạc, mơ hồ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, là tác nhân gây ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu: ngày 05/3/2003, bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 15/3/2012, bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 14/8/2014, bị Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 24/11/2016, bị Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 29/5/2025 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” với số tiền 1.500.000 đồng. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, nhưng nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về những vấn đề liên quan trong vụ án:

  • - Đối với số điện thoại 0332594532, qua điều tra xác định: Nguyễn Kông Duy K là người đăng ký chủ thuê bao. Tuy nhiên, K khai đã bị mất điện thoại cùng sim số trên, K không biết bị cáo T và không bán pháo cho T. Cơ quan điều tra cho Nguyễn Anh T nhận dạng K nhưng T xác định K không phải người bán pháo cho T. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Đà Nẵng không có căn cứ xử lý đối với K về hành vi buôn bán hàng cấm là phù hợp.
  • - Đối với Nguyễn Duy T1, Nguyễn Thế P và Nguyễn Hàn Đắc Huy B1: những người này nhờ T mua giúp từ 01 đến 02 hộp pháo để sử dụng. Tuy nhiên, cả 03 người này nhờ T mua riêng lẻ, không biết rõ nguồn gốc pháo T mua, không biết T mua bao nhiêu pháo, loại pháo nào, trọng lượng bao nhiêu; thực tế các đối tượng chưa nhận được pháo và chưa trả tiền. T khai không nhớ loại pháo các đối tượng nhờ mua là pháo gì, trọng lượng bao nhiêu. Qua tra cứu, các đối tượng chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án về các hành vi liên quan đến pháo nổ. Do đó, hành vi của T1, P và B1 chưa phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” và tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại Điều 190 và Điều 191 Bộ luật hình sự nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
  • - Đối với Nguyễn Ngọc T2 theo dữ liệu tin nhắn thu được thể hiện ngày 25/12/2024, T có nhắn cho V với nội dung hỏi mua 4 hộp pháo và chuyển tiền cho T2. Các đối tượng khai nhận, thời điểm này T2 có mua được mấy hộp pháo quốc phòng từ Đà Nẵng về bán lại. T hỏi mua và chuyển tiền cho T3 nhưng sau đó T2 hết pháo, không có bán cho T và đã trả tiền mặt lại cho T. Do đó, không có căn cứ xử lý T2 về hành vi Buôn bán hàng cấm là phù hợp.
  • - Đối với Nguyễn Bá V: V là em ruột Nguyễn Anh T. Theo dữ liệu tin nhắn thu được thể hiện ngày 01/01/2025, T có nhắn cho V nội dung “Nói bạn Em có lấy thì chuyển tiền qua nha", V không trả lời và không có nội dung trao đổi gì thêm giữa T và V. Theo các đối tượng khai nhận, T không có tài khoản, nên việc mượn tiền hay các giao dịch liên quan đến tiền bạc thường nhờ V nhận và chuyển giúp. V nhận và chuyển tiền nhiều lần, không biết cụ thể nội dung của các số tiền này. T khai không nhớ nội dung nhắn tin cho V ngày 01/01/2025 là gì. Do đó, không có căn cứ xử lý Nguyễn Bá V là phù hợp.
  • - Đối với Nguyễn Minh H: H là cậu của T, thường xuyên cho T mượn tiền. Do đó, số tiền T mượn của Phận, B1 và 2.000.000 đồng T1 nhờ T mua pháo, T đều yêu cầu chuyển qua tài khoản của H là T trả nợ cho H. H đã đi khỏi địa phương, không xác minh được nên không có căn cứ xử lý H là phù hợp.
  • - Trích xuất dữ liệu trên điện thoại REALME gắn sim số 0935220769 của Nguyễn Anh T, ngoài những nội dung liên quan đến hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Nguyễn Anh T còn phát hiện nhiều tài liệu có liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức cá cược số lô, đề, cá cược bóng đá với nhiều đối tượng khác thông qua tin nhắn mạng xã hội zalo, facebook và tin nhắn điện thoại di động Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q (cũ) đã thụ lý nguồn tin để xác minh, làm rõ là có cơ sở.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với toàn bộ phần còn lại của các mẫu vật đã được giám định kết luận là pháo hoa nổ; 3,26 gam ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói kèm theo; 01 (một) hộp giấy màu xanh, bên ngoài có dòng chữ “adopt", bên trong có 01 (một) nó thuỷ tinh không rõ hình dạng; 01 (một) bật lửa bị mất đầu kim loại, tại ống dẫn khí ga có cầm một ống lò xo được quấn vỏ giấy gương bao thuốc lá (tự chế); 02 (hai) ống hút nhựa gồm: 01 (một) ống màu tim sọc trắng có nối đoạn ống nhựa màu đỏ sọc trắng; 01 (một) ống nhựa màu trắng nối với đoạn ống nhựa không màu; 02 (hai) bật lửa có màu xanh dương và màu đỏ (đã qua sử dụng); sim số 0935220769. Đây là những vật cấm lưu hành và công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME màu đỏ, có số IMEI 1: 860750043110872, IMEI 2: 860750043110864 của bị cáo là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) ví màu nâu, đã qua sử dụng; bên trong ví có 02 (hai) thẻ ATM mang tên “CU HUY VIET” và “LE HUNG THIEN"; 02 (hai) giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô số 029702 và 002771 bị cáo khai là nhặt được nên tiếp tục tạm giữ để xác minh.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Anh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm"

- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Anh T 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015: Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chấp hành 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 02/01/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ phần còn lại của các mẫu vật đã được giám định kết luận là pháo hoa nổ (Vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho Vũ khí - đạn thuộc Phòng hậu cần – kỹ thuật, Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đ theo theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/01/2025).

- Tịch thu tiêu hủy: 3,26 gam ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói kèm theo; 01 (một) hộp giấy màu xanh, bên ngoài có dòng chữ “adopt", bên trong có 01 (một) nó thuỷ tinh không rõ hình dạng; 01 (một) bật lửa bị mất đầu kim loại, tại ống dẫn khí ga có cầm một ống lò xo được quấn vỏ giấy gương bao thuốc lá (tự chế); 02 (hai) ống hút nhựa gồm: 01 (một) ống màu tim sọc trắng có nối đoạn ống nhựa màu đỏ sọc trắng; 01 (một) ống nhựa màu trắng nối với đoạn ống nhựa không màu; 02 (hai) bật lửa có màu xanh dương và màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 sim số 0935220769.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME màu đỏ, có số IMEI 1: 860750043110872, IMEI 2: 860750043110864 của Nguyễn Anh T.

- Tiếp tục tạm giữ 01 (một) ví màu nâu, đã qua sử dụng; bên trong ví có 02 (hai) thẻ ATM mang tên “CU HUY VIET” và “LE HUNG THIEN"; 02 (hai) giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô số 029702 và 002771 (thu giữ trong túi quần của Nguyễn Anh T đang mặc) để xác minh. (Vật chứng trên đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 –Đà Nẵng theo theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/9/2025)

4. Án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/12/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
  • - TAND thành phố Đà Nẵng;
  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - VKSND khu vực 6 – Đà Nẵng;
  • - Phòng THADS khu vực 6 – Đà Nẵng;
  • - Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT thành phố Đà Nẵng;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ thành phố Đà Nẵng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG về tàng trữ, vận chuyển hàng cấm và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh T phạm tội "Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger