Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – HÀ TĨNH

Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31 – 12 - 2025
V/v Xin ly hôn, giải quyết con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lương, ông Phan Thanh Dân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 248/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 về việc “Xin ly hôn, giải quyết con chung”; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T; Sinh năm 1994; CCCD số: [...]; Nơi ĐKHKTT: trước khi xuất cảnh: Thôn B, xã C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống tại: Số B đường K, thành phố C, B, Cộng hòa Liên bang Đ; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người được ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Bà Lê Thị Phương T1; sinh năm 1999; Địa chỉ: Xóm E, xã H, tỉnh Nghệ An

- Bị đơn: Anh Nguyễn Sỹ N; Sinh năm: 1991; Số H: Q00326675. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn B, xã C, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang sinh sống tại: Số B đường K, thành phố C, bang B, Cộng hòa Liên bang Đ, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người được ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hằng N1; Địa chỉ: Số D, đường Đ, xã V, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Sỹ N tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 24/11/2016. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, do áp lực công việc và thiếu sự chia sẻ, cảm thông, giữa hai vợ chồng dần phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm ngày càng rạn nứt, không còn sự gắn bó như trước. Cả hai đã được gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên nhủ, hòa giải, song không đạt kết quả. Hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Sỹ N.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Linh N2, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2017. Sau ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên và không yêu cầu anh Nguyễn Sỹ N cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Do hiện nay chị đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đ nên nhờ ông Nguyễn Sỹ T2 và bà Trần Thị H (ông bà nội của cháu N2) tạm thời chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý việc học tập, sinh hoạt của cháu Nguyễn Ngọc L Như cho đến khi chị trở về Việt Nam.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai anh Nguyễn Sỹ N có nội dung:

Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn tự nguyện và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 24/11/2016. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, do áp lực công việc, điều kiện sống xa cách và thiếu sự chia sẻ, cảm thông, giữa hai vợ chồng dần phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm ngày càng rạn nứt, không còn sự gắn bó như trước. Cả hai đã được gia đình hai bên nhiều lần khuyên nhủ, hòa giải, song không đạt kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay và không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh đề nghị Tòa án chấp thuận đề nghị ly hôn của chị T, cho phép anh chị được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Linh N2, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2017. Vợ chồng thỏa thuận giao con cho chị T được quyền nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Do hiện nay chị T đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đ nên nhờ ông Nguyễn Sỹ T2 và bà Trần Thị H (ông bà nội của cháu N2) tạm thời chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý việc học tập, sinh hoạt của cháu Nguyễn Ngọc L Như cho đến khi chị T trở về Việt Nam.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ việc, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Sỹ N có nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh tại xã C, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đ. Theo văn bản số 1785/QLXNC- Đ1 ngày 18/12/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh H xác nhận anh N đã xuất cảnh ngày 25/11/2018 hiện chưa thấy thông tin nhập cảnh về nước. Chị T hiện đang sinh sống tại Cộng hòa Liên bang Đ, chị làm đơn xin ly hôn căn cứ quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15, ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS; Tòa án nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn Sỹ N và chị Nguyễn Thị T được hình thành trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 24/11/2016 tại UBND xã C, huyện C, Hà Tĩnh (nay là xã C), tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cuộc hôn nhân của chị T và anh N là hợp pháp. Xét thấy tình cảm giữa anh N và chị T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh N và chị T theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Ngọc Linh N2, sinh ngày 27/9/2017. Anh N, chị T thỏa thuận giao con cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 2, khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 2 Điều 479, Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 81, 82, 83,123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm b Điều 3, khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Sỹ N.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Linh N2, sinh ngày 27/9/2017 cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Sỹ N có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Sỹ N mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai số 0000118 ngày 01/12/2025 tại Chi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh, trả lại cho chị Nguyễn Thị T 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án (hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật).
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND khu vực 1 – Hà Tĩnh;
- Cơ quan THA tỉnh Hà Tĩnh;
- UBND xã Cẩm Lạc;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Trương Thị Minh Hiền
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh về xin ly hôn, giải quyết con chung

  • Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, giải quyết con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T xin ly hôn Nguyễn Sỹ N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger