|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/12/2025
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thái Lãm và ông Phạm Ngọc Điều
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thái – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Thi – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 50/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thu H, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn H, xã H, tỉnh Đắk Lắk; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Đông S, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn H, xã H, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Thu H trình bày:
- Quan hệ hôn nhân: Bà và ông S tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2022, có đăng ký kết hôn và được UBND xã H (nay là UBND xã H, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 15/8/2022. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã; ông S nhậu nhẹt say sỉn về đánh đập, chửi bới, xúc phạm bà. Bà đã cố gắng chịu đựng mong ông S thay đổi nhưng đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Có 01 con chung là Trương Gia H1, sinh ngày 10/10/2016, hiện do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ Đông S được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án.
Tại phiên tòa
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt các bên đương sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà H được ly hôn với ông S.
- Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung Trương Gia H1, sinh ngày 10/10/2016; bà H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bà Trương Thị Thu H khởi kiện xin ly hôn ông Võ Đông S, có đăng ký thường trú tại thôn H, xã H, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.
[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo biên bản xác minh ngày 28/10/2025 tại Công an xã H, ông Võ Đông S có đăng ký nhân khẩu thường trú tại thôn H, xã H, tỉnh Đắk Lắk, hiện nay đang đi làm ăn ở xa nhưng có đi, về địa phương thường xuyên. Tuy nhiên trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông S tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2022, đăng ký kết hôn và được UBND xã H (nay là UBND xã H, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 15/8/2022, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà H cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã, ông S nhậu nhẹt say sỉn về bạo hành bà, cuộc sống không hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án, ông S không đến Tòa trình bày ý kiến, không có thiện chí trong việc hòa giải, hàn gắn mâu thuẫn, tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H để ổn định cuộc sống.
[2.2] Về con chung: Bà H và ông S có một con chung là Trương Gia H1, sinh ngày 10/10/2016, hiện nay đang do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và có nguyện vọng được ở với mẹ. Bà H yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, ông S vắng mặt không có ý kiến. Xét thấy việc giao con chung cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp thực tế và nguyện vọng con chung, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu nên HĐXX chấp nhận. Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trương Thị Thu H được ly hôn với ông Võ Đông S.
- Về con chung: Giao cho bà Trương Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Trương Gia H1, sinh ngày 10/10/2016. Bà H không yêu cầu nên ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản; Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Trương Thị Thu H nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, đã nộp đủ theo Biên lai số 0001148 ngày 29/9/2025 của Chi thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 12 – Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - UBND xã Hoà Xuân; - Lưu Hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Tuyết Trinh |
|
Các Hội thẩm nhân dân Lê Thanh Khảnh Nguyễn Văn T |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Tuyết T1 |
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk về ly hôn
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ ĐƠN VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ
